Hack não 1500 từ tiếng Anh (2019)

Unit 1.  Language Learning.

My Best Friend

Satoshi-san had a small restaurant in Japan. He had great skill as a cook, but after some years, he wanted to follow his dream to experience a new culture. Not as a tourist, however. He wanted to live abroad and learn new things.
So Satoshi-san decided to learn a new language. He took an English course and because he was very shy, he did not tell anyone. He practiced in class until he could say a few things. Then, every time Satoshi-san saw a foreigner, he tried to speak to them. But because he didn’t understand how the grammar worked, he couldn’t respond well. Slowly, he became less shy and more confident. Soon, he was able to express his ideas. He started to pronounce things right and his English improved.
As he made progress, Satoshi-san was able to communicate with his foreign customers. From listening to their stories, he increased his vocabulary. He practiced and practiced until his English was as good as a British speaker’s. He got his certificate from the English course, and then it was time to go.
Satoshi-san wanted to become a famous chef in London. Then he saw how much the ticket was and went to Vietnam instead. Here, he bought a beautiful house surrounded by farms. The air was so fresh. “This is better than London!” he said.
But when Satoshi-san tried to make friends with someone, he realized that no one there spoke English. “Damn!” He said, “All the money spent learning English for nothing!”
His only friends were the dogs. They came to his house sometimes, even though sometimes they stole his shoes.
But at least they can speak “Gâu, go!”
Bác Satoshi có một nhà hàng nhỏ ở Nhật. Bác là một đầu bếp có nhiều skill điêu luyện, nhưng sau vài năm bác muốn follow his dream (theo đuổi ước mơ bản thân), đó là được trải nghiệm một nền culture khác. Nhưng không phải là một du khách, bác muốn sống abroad learn new things.
Thế là bác Satoshi quyết định learn a new language. Bác took an English course (theo học một khoá tiếng Anh), và vì rất shy nên bác không kể với ai cả. Bác luyện tập ở lớp cho đến khi có thể nói được đôi chút. Sau đó mỗi khi thấy một foreigner, Bác sẽ cố nói chuyện với người đó. Nhưng vì không understand về ngữ pháp, nên bác ứng biến không được tốt cho lắm. Dần dầ bác đở ngại hơn, và confident hơn. Rất nhanh sau đó bác có thể express his ideas (thể hiện ý tưởng bản thân). Bác cũng bắc đầu phát âm đúng và tiếng anh của bác cũng được improved.
Khi đã có sự progress, bác Satoshi bắt đầu có thể communicate với các thực khách người nước ngoài của mình. Qua việc lắng nghe những câu chuyện của họ, vốn vocabulary của bác tăng dần. Bác luyện tập và luyện tập cho đến khi tiếng Anh của bác tốt như speaker người Anh. Bác đạt được certificate từ course tiếng Anh, và đã đến lúc khởi hành.
Bác Satoshi muốn trở thành một đầu bếp nổi tiếng ở London. Rồi bác nhìn giá vé và chuyển hướng sang Việt Nam. Tại đây bác mua một căn nhà xin xắn được bao quanh bởi các cánh đồng. Không khí cực kỳ trong lành.
“Chổ này ăn đứt London” bác nói.
Nhưng rồi kho bác cố gắng make friends with someone (kết bạn với ai), bác nhận ra rằng không ai ở đây nói tiếng Anh cả. “Chết tiệt!” bác nói “Tiêu cả đống tiền học tiếng anh chả để làm gì!”
Người bạn duy nhất của bác là những chú chó. Đôi lúc chúng vào thăm nhà bác, mặc dù cũng có vài lần chúng tha mấy đôi giày của bác đi mất. Nhưng ít ra chúng còn biết nói “Gâu, go!”
My Best Friend

Unit 2. School Life.

A Simple Plan

Ever since Manh was in Kindergarten, he had a plan for his life. It had five steps. Step one, finish primary school. Step two, finish secondary school. Step three, start university. Step four, finish university with a mathematics and engineering degree. These were difficult subjects with a lot of science but they were popular.
Then, step five: build a super secret giant robot and take over the world.
It was a very simple plan.
Manh worked very hard. He was never absent from any class. Except for art. Manh never attended art classes because giant robots don’t need art.
The giant robot was going to happen, no matter what.
In the last term of university, Manh had to take an exam. It wasn’t easy, but Manh did not take notes to the exam. He crammed for it so much that his hair turned white. Then he passed the exam. In fact, he even passed with flying colours. He had the best grades in all of Asia.
So, he could continue his plan to build his secret robot. Manh started to laugh like an evil scientist. Then Manh went far far away, where no one could find him, and he started his plan. Little by little, he built the robot. It was big and yellow, with guns and missiles and even a DVD player inside. It was also as tall as Lotte tower.
After many months, Manh announced to himself, “It’s ready. Now, the world will be mine!” Manh walked inside the robot’s foot and took the elevator up. Then he sat inside the robot’s head. He turned the robot on.
The robot said, “Hello, Master Manh.” But Manh started to get very nervous. “What’s the problem, Master Manh?”
Manh was looking through the windows. He said, “I’m… I’m afraid of heights.”
Kể từ khi Mạnh mới đi kindergarten cậu đã có kế hoạch cho cuộc đời mình. Nó bao gồm năm bước.
Bước một: hoàn thành chương trình primary. Bước hai: hoàn thành chương trình secondary, Bước ba: start university. Bước bốn: finish university chuyên nghành mathematicsengineering. Đó là những subjects khó với rất nhiều kiến thức science, nhưng chúng lại rất popular.
Sau đó là bước năm: chế tạo một siêu người máy khổng lồ bí mật và thống trị thế giới.
Đó là một kế hoạch hết sức đơn giản.
Mạnh thực hiện nó rất chăm chỉ. Cậu không bao giờ absent ở bất cứ buổi học nào. Ngoại trừ art. Mạnh không attended các giờ nghệ thuật bởi vì người máy khổng lồ không cần đến nghệ thuật. Người máy khổng lồ chắc chắn sẽ được hoàn thành, dù thế nào đi nữa…
Vào term cuối ở trường đại học, Mạnh phải take an exam (làm bài thi). Nó không hề dễ nhưng Mạnh không mang tài liệu vào phòng thi. Cậu crammed for (học gạo để chuẩn bị cho..) nó nhiều tới mức tóc bạc trắng. Rồi cậu ta passed the exam (vượt qua bài thi). Thậm chí, cậu còn pass with flying colors (đạt điểm cao trong kỳ thì). Cậu đạt grades cao nhất toàn Châu Á.
Thế là cậu có thể continue kế hoạch chế tạo người máy bí mật của mình. Mạnh bắt đầu cười giống một nhà khoa học xấu xa. Rồi cậu đi thật xa để không ai có thể làm phiền, và bắt đầu kế hoạch.
Từng chút một cậu chế tạo gã người máy. Nó to, màu vàng với rất nhiều súng, tên lửa và thậm chí có hẳn một cái đầu DVD bên trong. Nó còn cao bằng tháp Lotle nũa.
Sau nhiều tháng Mạnh từ announced với bản thân mình, “Nó đã sẳn sàng. Giờ đây thế giới sẽ là của ta!” Mạnh bước vào trong chân người máy và dùng thang máy đi lên. Cậu ngồi trong đầu nó và khởi động.
Người máy nói, “Xin chào, cậu chủ Mạnh” Nhưng rồi mạnh bắt đầu thấy cực kỳ nervous.
“Có chuyện gì thế thưa cậu chủ?”
Mạnh nhìn qua cửa sổ. Cậu ta đáp, “Ta.. Ta sợ độ cao.”
A Simple Plan

Unit 3. Personal Information.

The Greatest Love

Tuan and his wife were living a quiet life until Tuan became a hardcore football fan. His wife wanted him to pay more attention to her.
“I feel that I’m not special to you anymore. You keep calling out ‘Pinky’ in your sleep. Isn’t that a girl’s name?” his wife said.
“Nah, it’s just a football player’s nickname. I did give you an article that explained the meaning of his nickname. His name is Hồng Duy, and Hồng means Pink, so his fans call him Duy Pinky.”
 “You really don’t care about me anymore, do you? You don’t remember where I was born and grew up, but you know all their personal information: first names, surnames, and even their hometowns.”
“But that’s not the worst,” the wife sobbed. “You even hung a photo of a bald old guy in our living room. You told me that that old man was your favourite person.”
“You mean Mr Park Hang-seo?” Tuan asked.
“Hang-heo?”
“Come on! You at least have to know how to spell his name right!” Tuan complained.
“See! You love football more than me.”
“It’s a healthy interest, honey,” the husband tried to calm his wife down.
“I can’t live like this. I feel like there is a distance between you and me!”
“Why don’t you try watching football with me?”
“Well, you like to watch it in coffee shops. They are always so crowded. I prefer a peaceful time at home.”
“Okay, so here’s the solution to this. I will stay at home and watch a football game with you.”
One month later, a friend visited Tuan.
“How’s your wife, dude?”
“The good news is she now enjoys football, but the bad news is that my beautiful wife no longer cares about me. All she loves is the young and handsome U23 guys.”
Tuấn cùng vợ đang living in a quiet life (một cuộc sống yên bình) cho tới khi anh trở thành một fan cứng của môn bóng đá. Vợ anh thì lại muốn anh quan tâm hơn đến cô.
“Em cảm thấy mình không còn special đối với anh nữa. Anh cứ calling “pinky” trong lúc ngủ. Đấy chẳng phải là tên của con gái à” Vợ anh nói.
“Không, chỉ là nickname của một cầu thủ thôi mà. Anh đã cho em đọc bài báo có giải thích về meaning của cái biệt danh đó rồi còn gì. Cậu ấy tên là Hồng Duy, và trong tiếng Anh, Hồng là Pink nên fan mới gọi cậu ấy là Duy pinky.”
“Anh thực sự không quan tâm đến em nữa rồi, đúng không? Anh không nhớ được nơi em sinh ra và grew up, nhưng a know toàn bộ personal information của họ: first names, surnames, và thậm chí cả hometowns nữa.”
“Mà đấy còn chưa phải là điều tệ nhất,” cô nức nở. “Anh thậm chí còn treo một tấm ảnh của một ông già hói đầu trong phòng khách nhà mình, Anh còn told em ông già đó là là nhân vật favourite của mình nữa.”
“Ý em là ông Park Hang-seo à?” Tuấn hỏi.
“Hang-heo á?”
“Thôi nào! Ít nhất thì em cũng phải biết spell his name cho đúng chứ!” Tuấn ngán ngẩm.
“Thấy chưa! Anh yêu bóng đá hơn em!”
“Đó là một healthy interest mà, vợ yêu,” Anh chồng cố gắng xoa dịu.
“Tôi không thể nào live như thế này được . Cảm giác như chúng ta có một distance vậy!”
“Hay là mình thử xe bóng đá với nhau được không vợ?”
“Nhưng mà anh toàn thích ngồi xem ở quán cafe thôi. Mấy chổ đấy lúc nào Cũng crowded lắm. Em chỉ muốn có chút thời gian peaceful ở nhà thôi.”
“Được rồi, thế này đi, vợ chồng mình cùng ở nhà và xem bóng đá với nhau nhé.”
Một tháng sau, một người bạn ghé thăm Tuấn.
“Ê, vợ ông độ này sao rồi?”
“Tin tốt là giờ vợ tôi thích xem bóng đá rồi. Còn tin xấu là bà xã beautiful của tôi không thèm đói hoài gì đến tôi nũa. Giờ tình yêu của nàng dành hết cho mấy nhóc U23 trẽ đẹp rồi.”
The Greatest Love

Unit 4. Job & Work Life 1.

The Great Monk’s Lesson.

The young monk entered the sacred cave and bowed. The Great Monk was sitting there.
“Great Monk. What can you teach me about life?”
“I can teach you a very important lesson,” he said. “I have lived and died many times. In one life, I opened a restaurant. I was the owner, but my clothes always smelled like pork and the cook stole my money.”
“Oh, that’s terrible,” said the young monk.
“Yes. My next life was more acceptable. I was a lawyer, but that means I lied sometimes. In my next life as an architect, the beach hotel I designed collapsed. Then I was an engineer, but a machine cut my finger in half.”
“Ouch!”
“Yep, very very ouch. Then I was a manager. Oh I hated that job.”
“Why, Great Monk?”
“It was a dead-end job and I had to fill a lot of forms. I showed up for work early and worked long hours because my assistant was the laziest person in the city. Then I was a pilot. I made a lot of money and got to fly all over the world. I lived as a salesperson once. I went to people’s houses and sold them books, and I met many beautiful housewives.” The Great Monk smiled.
“Oh, that sounds fun, Great Monk.”
“Yes, until one of their dogs bit me.”
“Ouch.”
“I was a receptionist once and that was boring. Then I was a hairdresser and learned that I hated hair. I once lived as a journalist. I was responsible for writing news. It was a well-paid job and I had to work to tight deadlines. News happens every day!”
“So, Great Monk, what is your greatest lesson from all your lives?”
“Don’t try skydiving.”
“Excuse me?”
“That’s how I died so many times.”
Chàng tu sĩ trẻ tiến vào hang thần và cuối chào. Đại tu sĩ đang ngồi trong đó.
“Thưa đại tu sĩ thầy có điều gì khai sáng cho con về cuộc đời này ạ”
“Ta có thể cho con một bài học rất quan trọng,” ông nói. “Ta đã trãi qua rất nhiều lần sinh và tử. Trong một kiếp sống, ta opened một nhà hàng. Ta là owner, nhưng quần áo của ta lúc nào cũng có mùi như mùi thịt lợn, và ta bị gả cook ăn cắp tiền.”
“Ồ, điều đó thật tồi tệ,” chàng tu sĩ trẻ nói.
“Đúng vậy. Kiếp sống sau đó của ta thì acceptable (chấp nhận được) hơn. Ta là một lawyer, nhưng nó đồng nghĩa với việc đôi khi ta phải nói dối. Kiếp sau nữa thì ta lại là một architect, khách sạn bên bờ biển do ta thiết kế bị xập. Rồi sau đó ta là một engineer, và ngón tay ta bị máy cắt làm đôi.”
“Thốn!”
“Chuẩn, rất thốn. Rồi sau đó ta là một manager. Trời ơi ta ghét cái công việc đó.”
“Vì sao thế thưa đại tu sĩ?”
“Nó là một dead-end job (công việc không có cơ hội thăng tiến), và ta phải điền đủ các loại forms. Ta phải showed up for work sớm và worked long hoursassistant của ta là cái đứa lười nhất vịnh bắc bộ. Sau đó ta lại trở thành pilot. Ta kiếm hàng đống tiền và bay qua khắp nơi trên thế giới. Có một lần ta là một salesperson. Ta tới nhà người ta để bán sách, và gặp được rất nhiều housewives xinh đẹp.” Đại tu sĩ cười mơ màng.
“Uây, nghe hay thế thầy ơi”
“Ừ, cho đến khi ta bị chó nhà người ta đớp.”
“Thốn.”
“Có một dạo ta làm receptionist, và nó thật sự rất chán. Rồi ta làm hairdresser và nhận ra mình cực kỳ ghét tóc. Một kiếp khác ta lại làm journalist. Ta was responsible for (chịu trách nhiệm cho việc gì) việc viết tin tức. Nó là một well-pair job (việc lương cao), nhưng ta phải work to tight deadlines (làm việc với hạn chót gấp rút). Tin tức thì ngày nào chẳng có!”
“Vậy thưa tu sĩ, bài học lớn nhất ngài rút ra từ tất cả những kiếp đã sống là gì ạ?”
“Đừng bao giờ thử nhảy dù nhá.”
“Sao cơ ạ?”
“Đó là lý do ta chết từng đấy lần đấy.”
The Great Monk’s Lesson

Unit 5.  Job & Work Life 2.

The Dream Job.

As he walked into the office building, he thought, “This is a dream.”
He was sure it was a dream. He was jobless and was wearing a black suit. He was carrying his job application inside a file and was on his way to an interview to get a job.
He had never applied for a job before, he had never thought about a career. In fact, he had never even worn a suit before.
“What a strange dream. I’m going to have a job interview. But I don’t even know what kind of job it is. A secretary or bank teller? I don’t know much about banking. A filmmaker maybe or a musician? No, not a musician. I’m not carrying a musical instrument, so it must be another kind of job. Maybe a reporter or a photographer because I like travelling and nature.”
Then, he got an idea. He opened his file to see what his job application said.
But all the documents fell out. “Oh no! I need to prepare myself or I won’t pass the job interview!”
He had never arranged papers before. In fact, he had never even carried a file before.
Suddenly, the office door opened. The boss was a serious woman wearing a white apron and a hat. “You’re here!” she shouted. “Good! Hurry, come in! Everything is ready!”
“Oh. But what about the interview?” he asked her.
“Can you work under pressure? Because I have to close the pot,” the boss said.
“Yes, I’m definitely qualified for that!”
“Great,” said the boss. Then she grabbed his arm and pulled him. “Yes, you’re a nice fat dog, so the customers will love the stew.”
“WHAT? NO WAIT! I DON’T WANT THAT STUPID JOB!” Then the dog woke up from his dream, barking, and ran away from the village.
Bước vào toà nhà văn phòng, hắn nghĩ, “Đây là một giấc mơ.”
Hắn khá chắc mình đang ở trong một giấc mơ. Hắn jobless (thất nghiệp) và vận một bộ vest đen. Hắn mang application xin việc trong một bộ file, đang trên đường đi đến một buổi interview để get a job (kiếm việc làm).
Trước giờ hắn chưa từng applied for a job (ứng tuyển cho công việc); hắn cũng chưa bao giờ nghĩ tới một career (sự nghiệp). Thực ra mà nói hắn còn chưa bao giờ khoát một bộ vest lên người.
“Thật là một giấc mơ kỳ lạ. Mình chuẩn bị đi phỏng vấn xin việc, mà thậm chí mình chả biết là công việc kiểu gì. Secretary hay bank teller? Mình chả biết gì mấy về nghiệp vụ ngân hàng. Hay là filmmaker, hoặc musician gì đó nhỉ? Không chắc không phải nhạc sĩ rồi. Mình không mang theo một music instrument nào cả, nên chắc chắn là một công việc khác rồi. Có khi là reporter hoặc photographer, vì mình thích đi đây đó và cũng yêu thiên nhiên.”
Rồi, hắn nảy ra một ý tưởng. Hắn mở bộ hồ sơ để xem job application của mình có ghi công việc gì.
Nhưng rồi toàn bộ chỗ documents rơi ra ngoài. “Ôi không! Mình cần prepare thật kỹ, không thì không pass the job interview (vượt qua buổi phỏng vấn xin việc) mất!” Hắn chưa arranged giấy tờ bao giờ.
Bất chợt, cánh cửa văn phòng mở ra. Vị sếp là một người phụ nữ nghiêm nghị đeo một cái tạp dề trắng và đội mủ. “Chú đây rồi!” bà ta quát. “Tốt! Nhanh, vào đây! Mọi thứ đã sẵn sàng hết rồi!”
“Ơ. Thế còn vụ phỏng vấn thì sao?” hắn hỏi người phụ nữ.
“Chú có thể work under pressure (làm việc dưới áp lực) chứ? Vì giờ chị phải đậy cái nồi lại đấy” bà xếp nói.
“Có chứ, tất nhiên là em qualified (đủ khả năng) rồi!”
“Ngon,” bà xếp tiếp. Rồi bà ta cầm tay và kéo hắn lại. “Được đấy, chó béo như chú mà hầm thì customers thích phải biết.”
“HẢ? KHÔNG, ĐỢI ĐÃ! TÔI KHÔNG MUỐN CÁI CÔNG VIỆC NGỚ NGẨN NÀY ĐÂU!”
Rồi anh chó của chúng ta bừng tỉnh khỏi cơn mê, sủa nhặng xị, và ba chân bốn cẳng chạy khỏi ngôi làng.
The Dream Job.

Unit 6. Money & Spending.

The Expensive Fish.

John said to his friend, May, “Listen. I’m running short of money.”
John was an old rich man, and he didn’t own anything cheap. If something didn’t have a high price, he wouldn’t buy it. His house had twenty rooms. The rent must have been crazy, and the electricity bill? Well, that must have been more expensive than an airport.
John and May were different. May could manage her money well. She spent a part of her salary on important things and saved the rest. She wasn’t wasteful. But John often did something really stupid, then asked her for money. She was getting tired of it.
May said, “You know, John, the cost of living here is getting high. I need to pay rent and bills. Stop borrowing my money.”
“Please, May, I really need your help.”
“What stupid thing did you do this time?”
“I don’t do stupid things,” said John.
“Are you sure? Because last time, you bought a private jet. The fees you owed the bank were not paid on time. In fact, you were so broke that you had to sell all your furniture just to cover the cost of food.”
“Ok,” said John. “But this time, it’s different. I bought a cat.”
“Oh,” May laughed. “Well, that’s fine.”
“The most expensive cat in the world,” said John.
“What??”
“It’s the only one left of that kind of cat in the whole world! And I saved it! I’m going to take care of it. But I’ve run out of money.”
“Well, I can lend you a little money,” said May.
John rubbed his hands. “Well, the thing is, the cat only eats Peruvian carp.”
“What’s Peruvian carp?”
“It’s the most expensive fish in the world.”
May stood up and said, “Well, then your cat is in big trouble.”
John nói với bạn mình – May, “Nghe này, tôi đang running short of money.”
John là một ông già và rich, và ông không sở hữu bất cứ thứ đồ cheap nào. Nếu một thứ đồ không có price cao, ông sẽ không mua nó. Nhà ông có hai mươi phòng. Giá rent chắc chắn là điên rồ, và hoá đơn tiền điện? Chà, chắc phải expensive hơn cả một cái sân bay.
May thì khác với John. May có thể manage tiền của bà một cách hợp lý, bà spent một phần tiền lương vào những thứ quan trọng và saved chỗ còn lại. Bà không wasteful. Còn John thì thường xuyên làm những thứ cực kỳ nhảm, và rồi hỏi xin tiền từ bà ấy. May bắt đầu thấy mệt mỏi về vụ này.
May nói, “Ông biết đấy, John, cost of living (chi phí sinh hoạt) ở đây ngày một đắt đỏ. Tôi còn phải pay rent and bills (trả tiền thuê nhà và hoá đơn) chứ. Đừng borrowing tiền tôi nữa.”
“Làm ơn đi mà May, tôi thật sự rất cần bà giúp”
“Lần này ông lại làm trò ngu ngốc gì thế?”
“Tôi chả bao giờ làm trò gì ngu ngốc cả,” John cải.
“Ông chắc không đấy? vì vừa mới lần trước, ông mua một cái chuyên cơ riêng. Chỗ fees mà ông owned ngân hàng không được paid on time (được trã đúng hạn). Thực tế là ông broke đến nổi còn phải bán toàn bộ đồ nội thất chỉ để chi trã cho cost thức ăn.”
“Được rồi,” John đáp. “Nhưng lần này thì khác. Tôi mua một con mèo thôi.”
“Ồ!” May bật cười. “Được thế thì ổn.”
“Con mèo đắt nhất thế giới,” John nói tiếp.
“Gì cơ?”
“Nó là con duy nhất trong loài còn sót lại trên toàn thế giới, và tôi đã ra tay cứu nó! Tôi sẽ chăm sóc nó! Nhưng tôi run out of money (hết tiền) mất rồi.”
“Thôi được rồi, tôi có thể lend ông một ít tiền,” May ngán ngẩm.
John xoa xoa hai bàn tay. “Chậc, vấn đề là con mèo đó chỉ ăn mỗi cá chép Peru thôi.”
“Cá chép Peru là cái giống gì thế?”
“Đó là giống cá đắt nhất thế giới.”
May đứng dậy và nói, “Chà, thế thì con mèo của ông in big trouble (gặp rắc rối to) rồi.”
The Expensive Fish

Unit 7. In The City 1

The Worst Thieves

Henry moved to the capital last month. At first, he thought it was too crowded for him; too noisy. Everything was too fast and too loud. He thought he would never get used to the speed and the craziness, or the pace of life there.
But later, Henry thought, “This is exciting”

He used to live in a quiet village, with no skyscrapers blocking views of the stars.

He had made a nice life for himself there. But the only thing they talked about in that village was the crime in the city “Don’t go. The quality of life is terrible. The capital has the worst thieves in the whole world! The worst!”

After some years, he could not put up with it any longer. He bought a small house in the city and moved there.

He later learned to love the atmosphere of this busy city with all its nightlife. In fact, he decided, “I’m going out tonight!” He put on some nice clothes, brand new shoes, and leave the house.
Immediately, someone  grabbed his wallet and ran.

“Hey! Thief!!”

Henry ran after the man. The ran the whole night, through lively street, past many entertainment options and modern buildings. The passed various types of transport services, like the big buses and the metro system.

Darn! This thief was really fit! Henry started to get tired, but he had to get his wallet back.

Henry jumped off the pavement and ran through the alley. There he jumped on the man and took his wallet back. He slapped the man. “Idiot! This is my wallet!”

Henry left him and return to his neighborhood. It was bustling with people and lots of appealing food. But Henry was tired; he just wanted to go to bed.

He opened the door and saw that his bed was gone. In fact, everything was gone.

Henry chuyển đến capital vào tháng trước. Ban đầu anh thấy nó quá đông đút và ồn ào. Mọi thứ điều quá nhanh và quá ầm ỉ. Anh còn nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ có thể get used to (làm quen dần với ) tốc độ và sự điên rồ, hoặc pace of life (nhịp sống) ở đây!”
Nhưng rồi Henry nghĩ, “Thế này cũng exciting đấy.” 

Trước đây anh sống ở một ngôi làng yên tỉnh, không có những toà skyscraper (nhà chọc trời) che khuất những ngôi sao.

Henry đã tạo dựng cho bản thân mình một cuộc sống đẹp ở đây. Nhưng chủ đề duy nhất được người ta bàn tán ở ngôi làng đó là về tội phạm ở thành phố. “Đừng đi, quality of life (chất lượng cuộc sống) ở đó tệ lắm. Ở thủ đô có những thằng trộm tồi tệ nhất thế giới! Là tồi tệ nhất đấy!”

Sau vài năm anh không thể nào put up with (chịu đựng điều gì) việc đó lâu hơn nữa. Anh mua một căn nhà nhỏ trong thành phố và chuyển vào ở đó.

Dần dần Henry bắt đầu yêu cái atmosphere của cái thành phố bận rộn này với cả cuộc sống về đêm của nó. Thậm chí anh còn đưa ra quyết định “Mình sẽ ra ngoài chơi đêm nay.” Anh khoát lên mình một bộ cánh đẹp, đôi giày mới tinh và rời khỏi nhà. Ngay lập tức có ai đó thó luôn cái ví của anh và chạy mất.

“Này thằng trộm kia!!”

Henry đuổi theo gả trộm. Họ chạy suốt đêm, băng qua những con phố lively, qua rất nhiều entertainment options và những toà nhà modern. Họ băng qua various loại service giao thông như những cái xe buýt to đùng và metro system.

“Chết tiệt, thằng trộm này day sức quá!” Henry bắt đầu thấy mệt nhưng anh phải lấy lại ví của mình bằng được.

Henry nhảy lên pavement và chạy xuyên qua alley. Tại đó anh nhảy lên tên trộm và lấy lại được ví của mình. Anh cho tên trộm ăn vả “Đồ ngu, đây là ví của tao mà!”

Henry để tên trộm lại và quay trở về neighborhood của mình. Nó vẫn bustling (náo nhiệt) với nhiều người và rất nhiều đồ ăn appealing (thu hút). Nhưng Henry mệt rồi, anh chỉ muốn lên giường đi ngủ.

Anh mở cửa nhà và thấy chiếc giường của mình không còn ở đó. Thực tế thì mọi đồ đạc đều đã biến mất.

The Worst Thieves

Unit 8. In The City 2

The Public Security

Lili hated the city life. The traffic noise woke her up every day. She left her pricey flat and called a GrabBike. She hated walking because the streets were filled with rubbish that people threw away. So instead, she had to use the gym facilities near work to stay healthy.
So, every day, she carried gym clothes and at least two mousetraps.
The crowded roads drove her insane. “Gosh! Has anyone noticed that this city’s population is too high?? That’s why it’s lacking clean streets. They need to build more flyovers too; every street is full of vehicles!”
The Grab guy drove recklessly through the traffic jam. By the time she arrived, her hair smelled like smoke, and the poor air quality made her cough. The city people were also so selfish in sharing their space. She needed a city with more room. Lili considered running away to the countryside. There, at least, she would have a nice open space without unhealthy pollution.
And no crime.
As she got off the GrabBike, she saw him. That guy. Ooohh, he really annoyed her. He stood there daily, and she knew what he wanted. Dealing with guys like him tired her out. Today, Lili would deal with him in a different way.
First, she went to the gym. She changed into her gym clothes and exercised. Then Lili showered, changed, and walked out feeling good.
The guy was still there, so she walked right in front of him, and then he did it.
WHACK!!
“WWAAAA!!!” The guy pulled his hand out of her purse. His finger was caught in the mousetrap.
“Got you! Shame on you,” said Lily.
“But I’m not a pickpocket!” he cried. “I work for the Department of Public Security. I was trying to give you this.” He showed her a small note. It said, “PLEASE BEWARE OF PICKPOCKETS.”
Lyly ghét cuộc sống ở thành phố. Traffic noise (tiếng ồn giao thông) đánh thức cô mỗi ngày. Cô rời căn hộ pricey của mình và gọi một chuyến GrabBike. Cô ghét đi bộ vì đường phố đầy những đống rubbish mà người ta threw ra. Vậy nên để thay vào đó, cô phải sử dụng facilities của phòng tập gần chỗ làm để đảm bảo sức khoẻ. Thế là, mỗi ngày, cô mang theo quần áo tập và ít nhất hai cái bẩy chuột.
Những con phố đông đút drove her insane (khiến ai đó phát điên). “Trời ơi! Liệu đã có ai để ý thấy rằng mật độ population của thành phố này quá cao chưa?? Đó là lý do tại sao nó bị lacking những con phố sạch đấy, Họ cũng cần build thêm cầu vượt nữa; đường phố chỗ nào cũng toàn là xe!”
Tài xế Grab drove recklessly (láy xe ẩu) qua chỗ traffic jam (tắc đường). Khi đến nơi, tóc cô đầy mùi khói, và air quality tồi tệ làm cô ho sù sụ. Người ở thành phố này cũng cực kỳ selfish (ít kỹ) trong việc chia sẽ không gian của mình. Cô cần một thành phố có nhiều room hơn. Lili cân nhắc việc bỏ tới vùng nông thôn. Ở đó, ít nhất thì cô cũng có thể có một không gian thoáng đãng và tránh được unhealthy pollution. Và không có crime.
Khi xuống khỏi GrabBike, Cô thấy hắn. Gã đó, trời ơi, hắn thực sự làm cô thấy khó chịu. Hắn đứng đó daily, và cô biết hắn muốn gì. Xử lý với mấy gã như thế tired her out (tired someone out – khiến ai mệt lừ). Hôm nay, Lili sẽ xử gã này theo một cách khác.
Đầu tiên cô tới phòng tập. Cô thay đồ vào và tập. Rồi cô tắm gội, thay đồ, và đi ra ngoài với một tâm trạng vui vẽ.
Gã kia vẫn ở đó, Thế là cô ta đi tới ngay trước mặt gã, và rồi gã giở trò.
TẠCH!!!
“ÁAAA!!!” Gã rút tay ra khỏi túi của cô. Ngón tay gã bị mắc vào trong cái bẩy chuột.
“Tóm được mày rồi nhá! Không biết xấu hổ à,” Lili đắc chí.
“Nhưng mà tôi có phải pickpocket đâu!” hắn khóc lóc. “Tôi làm cho Cơ quan Security công cộng. Tôi chỉ định đưa cho cô cái này thôi mà.” Hắn đưa cô một mẫu giấy nhỏ. Trên đó viết, “ĐỀ PHÒNG BỌN MÓC TÚI.”
The Public Security

Unit 9. House & Neighborhood 1

The Machine

Maggie was one of the best scientists in the city. Her job paid her very well, so she lived in a nice place.
She lived in a modern building with a balcony that face the lake. It was beautifully decorated. When she moved into her flat, she brought only her clothes, her science equipment and her cat. She didn’t bring any furniture because the flat was fully furnished “and only a short drive away from all modern conveniences” , the building owner said.
Her friends loved visiting her because it was within walking distance of the lake, transport and entertainment. In fact, when she threw a housewarming party, they didn’t want to leave, Maggie had to chase them out. She liked having friends but not housemate.
But the most important thing was the view from her windows, the lake calmed her and the light made her comfortable to work for hours on her science project.
Maggie was working hard on something that would change the world. Her cat was not Just a pet. It was her experiment.
When she work, her cat shared extra room with a big shiny machine with lots of little lights and buttons.
Then one day, she finished, she put her cat on a table and put a microphone in front of its face. Then she turned on a switch and said “come on kitty, say something!”
The cat meowed, and the machine translated: “what?”
The cat looked surprised, it meowed again: “I can speak now”
Maggie jumped with excitement “yes, yes” she said.
The cat looked around, at the rug and everything else, and it meowed again. “Fantastic, listen, this is a worst flat i ever seen and i must say your dress is even worse”.
So, Maggie’s machine work out well. Too bad for the cat, though.
Maggie là một trong những nhà khoa học xuất sắc nhất của thành phố. Công việc của cô có thu nhập rất tốt, cho phép cô sống ở một place ổn định.
Cô sống ở một building hiện đại với balcony faced ra hồ. Nó được beautifully decorated. Khi cô moved into her flat, cô chỉ mang theo mỗi quần áo, dụng cụ khoa học , và con mèo của mình. Cô không mang theo món furniture nào cả vì flat đã được fully furnished (có đầy đủ đồ đạc) rồi. “Và chỉ cách tất cả những modern conveniences (các tiện nghi hiện đại) một quảng drive away ngắn,” chủ toà nhà nói.
Bạn bè cô rất thích đến thăm cô vì chỗ cô was within walking distance of (đủ gần để đi bộ đến) hồ, nút giao thông, và khu giải trí. Thực ra khi cô tổ chức a housewarming party (tiệc tân gia), họ còn không muốn rời đi. Maggie phải đuổi họ về. Cô thích có nhiều bạn bè, nhưng không phải là housemates (bạn cùng nhà).
Nhưng thứ quang trọng nhất là the view form cửa sổ của cô. Hồ nước làm cô thư thái, và light làm cô thấy comfortable để có thể làm việc hàng giờ cho dự ám của mình. Maggie hiện đang tập trung cho một thứ có khả năng thay đổi cả thế giới. Con mèo của cô không chỉ là một con thú cưng bình thường. Nó là vật thí nghiệm của cô.
Khi cô làm việc nó shared căn phòng trống với một cổ máy to đùng, sáng bóng có rất nhiều những bóng đèn và nút bấm nhỏ.
Rồi một ngày cô hoàn thành. Cô đặt con mèo lên bàn và đưa ra trước mặt nó một cái micro. Rồi cô turn on a switch và nói, “Nào cưng! Nói gì đó đi!”
Con mèo kêu meo meo, và cái máy bắt đầu dịch: “Gì cơ?”
Con mèo có vẽ ngạc nhiên. Nó meo tiếp: “Giờ tôi có thể nói chuyên được sao?”
Maggie nhảy cẩn lên thích thú. “Đúng đúng thế!!” cô thét lên.
Con mèo ngó quanh, nhìn vào tấm rug và tất cả những thứ khác, và rồi nó lại meo.
Tuyệt vời. Nghe này. Đây là căn hộ tồi tệ nhất tôi từng thấy, và tôi phải nói rằng, Cái váy cô đang mặt còn tệ hơn.”
Vậy là cái máy của Maggie hoạt đông rất tốt. Chỉ có số phận của con mèo là không ra gì.
The Machine

Unit 10. House & Neighbourhood 2

The Perfect Place

Duy found a nice flat advertised on a bulletin board near his work, so he called the landlord.
“Yes, it’s a very nice flat”, the landlord said. The landlord informed him that is was located in a new block being developed by the city. It was going to be a really safe and vibrant area. ” It’s so beautiful, I guarantee you won’t want to leave!”. The friendly landlord invited Duy to come and see it.
Duy asked how to get there.
“You have a pen and paper?”
“Ok,” said the landlord. “You know that big new shopping mall? Ok, drive to the entrance, but turn left on the one-way street. Then pass the grocery store with the green walls. Then pass the Circle K on the left, when you reach the clinic, turn into the alley, also one-way. You will pass a big construction site on your left. Be careful: the ground there is usually muddy. Then, this is where it get complicated.”
“It’s already complicated!”
“At the end of the construction site, there’s a convenience store. Pass it, and turn left onto the small one-way road. It has no sign, but turn before the old gym there…”
Duy got lost three times. When he finally arrived, he found a chilled neighborhood: not noisy like the rest of the city. Everyone relaxed at coffee shops, as if they had nothing to do. The vibe was excellent! Duy had always wanted to be based in an area like this.
Ok, he said “I want to go home and think about it.”
“Think about it here”. The landlord smiled. “In fact, just buy it now”.
“Why?”
“You need a place to stay, you can’t leave”
“What?”
“Didn’t you notice, every street coming here was one-way”
Duy tìm thấy một căn hộ khá đẹp được quảng cáo trên một bulletin board (bản tin) gần chổ làm, thế là anh gọi cho chủ nhà.
“Đúng rồi, căn hộ đẹp lắm đấy” ông chủ nhà nói. Ông informed cho Duy rằng nó được toạ lạc trong một block mới đang được developed bởi thành phố. Nó sẽ trở thành area cực kỳ safevibrant. “Nó quá đẹp, đảm bảo cậu không bao giờ muốn rời đi đâu!” Ông chủ nhà friendly invited Duy tới và xem căn hộ.
Duy hỏi đường tới đó.
“Có giấy bút đấy không?”
“Có ạ.”
“Được rồi,” Ông chủ nhà tiếp. “Cậu biết cái shopping mall (trung tâm thương mại) to to mới mở chứ? Lái xe tới lối vào, nhưng rẽ trái ở cái đường oneway. Sau đó đi tới cái grocery store (cử hàng tạp hoá)  có tường xanh. Tiếp đi qua Circle K bên tay trái. Khi tới chỗ clinic rẽ vào trong ngõ, cũng là đường một chiều nốt. Cậu sẽ đi qua một cái construction site (công trường xây dựng) to đùng ở bên trái. Cẩn thận: ground ở đó nhiều bùn lắm. Rồi, đến đoạn này thì bắt đầu complicated đây.”
“Nó đã sẵn phức tap rồi!”
“Đi hết công trường xây dựng sẽ có một cái convenience store (cửa hàng tiện lợi). Đi qua nó và rẽ trái vào cái đường một chiều. Nó không có biển báo, nhưng rẽ trước khi đến cái gym cũ ở đó…”
Duy lạc đường ba lần. Khi cuối cùng cũng đã đến nơi, anh thấy một khu dân cư rất chilled: Không noisy như phần còn lại của thành phố. Mọi người đều thư giản ở những quan cà phê, như thể họ chả có việc gì để làm vậy. Vibe quá tuyệt! Duy đã muốn be based in an area (sống ở một khu vực) như thế này. “Được rồi,” anh nói “Giờ cháu sẽ về nhà và cân nhắc về vụ này.”
“Cân nhắc ở đây luôn đi.” Ông chủ nhà mỉm cười. “Thực ra thì mua nó luôn đi.”
“Sao lại thế ạ?”
“Cậu chẳng muốn một chỗ để ở còn gì. Và cậu không thể rời đi được đâu.”
“Sao cơ ạ?”
“Cậu không để ý là tất cả những con đường dẫn đến đây đều là đường một chiều à?”
The Perfect Place

Unit 11. Travelling & Tourist Activities 1

How To Make A Tourist Trap

Want to make money from tourists?
You can provide hotel reservations or a service to hunt cheap flight tickets. Nowadays, it’s easy to book a flight, but it’s not so easy to find a nice, cheap one.
You can sell tours of an interesting destination, help tourists escape the city and have a unique experience. You need to find somewhere that, The moment the tourists arrive after a long journey, they’ll know that they’ll have an adventure. If they’re excited about it, they’ll pay you well.
If you have a hotel, make sure the staff at reception are friendly, so that tourists want to extend their trip and have a longer stay.
But to make a lot of money, you need to make a tourist trap, and you need for magic words.
First, find a place in the middle of nowhere. It can be on a secret beach, a secret mountain; anything. Then, build something huge there. It could be a temple, or a statue, or even a big rock with a face. It doesn’t matter; just make sure it’s huge.
Then find some local with long, untidy hair. Pay them to stand outside of some tents. Make them wear weird clothing in the fashion of the Stone Age too.
Next, bring five tourists to this place. Your first guests! Show them the huge thing you made and the locals with weird clothing. I promise: the tourists will go crazy. A director from overseas might even film a monkey movie at your place!
Finally: the most important step. If you do this step right, you’ll make millions! When the tourist pack their stuff and are about to leave, look at them very seriously, and say the four magic words.
“PLEASE. DON’T. TELL. ANYONE.”
There. Now start building hotels and restaurants. They’re coming.
Bạn muốn kiếm tiền từ tourists?
Bạn có thể cung cấp hotel reservation (dịch vụ đặt phòng khách sạn) hoặc dịch vụ săn vé máy bay giá rẽ. Nowadays thật dễ để book a flight, nhưng để tìm được một chuyến tốt và rẽ thì không dễ cho lắm.
Bạn có thể bán tours tới những destination thú vị, giúp du khách escape the city và có một experience độc nhất. Bạn cần tìm một nơi mà vào moment du khách đặt chân tới sau một journey dài, họ nhận ra họ sẽ có một chuyến adventure. Nếu họ cảm thấy excited với nó, họ sẽ trã cho bạn một khoảng hậu hĩnh.
Nếu bạn có một khách sạn, hãy đảm bảo rằng nhân viên ở reception phải thật thân thiện, để du khách muốn kéo dài chuyến đi và stay lâu hơn.
Nhưng nếu muốn kiếm thật nhiều tiền, bạn cần tạo ra một cái tourist trap, và bạn cần bốn từ ma thuật.
Đầu tiên tìm một địa điểm in the middle of nowhere (nơi khỉ ho cò gáy). Đó có thể là một bãi biển bí mật, một ngọn núi bí mật; bất cứ thứ gì. Rồi xây một thứ thật huge ở đó. Nó có thể là một ngôi đền. một bức tượng, hoặc thậm chí là một tản đá lớn vơi một khuông mặt được khắc trên đó. Không quan trọng là gì; chỉ cần đảm bảo rằng nó thật sự hoành tráng là được.
Sau đó, tìm mấy người địa phương với máy tóc dài và lôi thôi. Trả tiền để họ đứng bên ngoài mấy cái lều. Cho họ mặc đồ dị dị theo thời trang kiểu thời kỳ đồ đá nữa.
Bước tiếp theo đưa năm người du khách tới chỗ đó. Những vị khách đầu tiên của bạn đấy! Cho họ xem cái thứ hoành tráng của bạn và mấy người địa phương ăn mặt dị dị kia. Tôi đảm bảo: đám du khách sẽ phát điên. Có khi một tay đạo diễn ở nước ngoài còn đến chỗ bạn quay một bộ phim về tinh tinh nữa ấy chứ!
Cuối cùng bước quang trọng nhất. Nếu bạn thực hiện đúng, bạn có thể kiếm được hàng triệu đô!
Khi di khách pack their stuff và chuẩn bị rời đi, nhìn họ một cách hết sức nghiêm trọng, và nói bốn từ ma thuật.
“Làm ơn. Đừng. Nói cho. Ai hết.”
Đó. Giờ thì bắt đầu xây khách sạn và nhà hàng thôi.
Họ kéo đến bây giờ đây này.
How To Make A Tourist Trap

Unit 12. Travelling & Tourist Activities 2

Local Specialty 

It was a warm night. The rats ran along the tour route, following a big rat with a red hat.
“Here we have one of the must-do activities in Ha Noi: the Ho Chi Minh Mausoleum. It’s a famous historical site to visit druing your stay in Ha Noi” said the big rat. His red hat said “FOLLOW ME”. There is alot of history in this city; to much to see in one night, let’s go.
The rats were happy to get some fresh air after staying hidden underground all days. So they went for a walk around the city with a good tour guide.
They passed churches, temples, pagodas… and learned about the war. “My grandfather met many american soldiers in prison. He said they have big hairy feet.” The tour guide laughed. “And now, we’re going to the Old Quarter”, a very touristly area of the city”.
The rats saw drunk people fighting and lovers kissing and lovely restaurants with lot of food to try. But the big rat said, “I don’t recommend going there. They have a big cat there, and he’s very fast. You won’t be able to taste anything before he cuts you in half.”
But we’ve been going sightseeing for so long, running throughout the city our little rat feet are tired.”
The tour guide said, “don’t worry, i’ll show you a local restaurant here. A special one”
“Free buffet and free beer”
The fat rats jumped up. “Can we go there?”
“Yes, in five minutes”, said the tour guide. “Wait, wait, wait…”.
Then a white truck came around the corner. Police. Every business rushed to close its doors. In five minutes, Ma May street was almost empty, except for the trash and spilt beer.
The big rat smiled. “There, buffet and free beer!”
Đó là một buổi tối ấm áp. Lũ chuột chạy dọc route của chuyến tham quan, theo sau một con chuột cống đội mũ đỏ.
“Ở đây chúng ta có một trong những must-do activities (hoạt động không thể bỏ qua) ở Hà Nội: Mausoleum Hồ Chi Minh. Nó là một historical site (di tích lịch sử) nổi tiếng bạn nên ghé thăm during your stay in (trong thời gian ở tại đâu) Hà Nội,” con chuột cống nói. Cái mủ đỏ nó có chữ ‘THEO TÔI.’ “Thành phố này là nơi có bề dày history sâu rộng; quá nhiều thứ để có thể thăm thú trong vòng một đêm. Đi nào.”
Lũ chuột hạnh phúc vì được get some fresh air sau khi phải hidden dưới lòng đất cả ngày. Thế là chúng went for a walk (đi dạo) quanh thành phố với một gã guide du lịch ngon lành.
Chúng đi qua churches, temples, pagodas,… và được nghe kể về những cuộc wars. “Ông tôi gặp rất nhiều tù binh Mỹ trong nhà tù. Ông nói họ có những bàn chân to và lông lá. “Gã hướng dẫn viên cười. “Và giờ, chúng ta đang trên đường tới the Old Quarter (khu phố cổ), một địa điểm rất touristy (rất đông khách) ở Hà Nội.”
Lũ chuột nhìn thấy những người say xỉn đánh lộn, lovers thì hôn nhau và những nhà hàng lovely với rất nhiều đồ ăn để try. Nhưng gã chuột cống nói, “Tôi không recommend mọi người vào đó đâu. Họ có một con mèo bự, và nó nhanh lắm đấy. Mấy người thậm chí sẽ không kịp taste một miếng nào trước khi bị nó xé ra làm hai đâu.”
“Nhưng nãy giờ chúng ta đã going sightseeing (đi ngắm cảnh) lâu ơi là lâu rồi, chạy khắp cả thành phố. Những bàn chân chuột nhỏ xíu của bọn tôi đã mỏi nhừ rồi.”
Gã hướng dẫn viên trấn an, “Đừng lo. Tôi sẽ dẫn mấy người tới một nhà hàng local ở đây. Một nhà hàng đặt biệt.”
“Ồ?”
“Tiệc tự chọn miễn phí và bia miễn phí.”
“Gì Cơ??” Mấy gã chuột béo nhảy cẩn lên. “Chúng ta tới đó luôn được không?”
“Được chứ. Năm phút nữa thôi,” gã hướng dẫn viên tiếp lời. Đợi nhé. Đợi, đợi, đợi.”
Tiếp đó một chiếc xe tải trắng lượng tới gần. Công an. Tất cả hàng quán cuốn cuồn đóng cửa. trong vòng năm phút, phố mã mây gần như trống trơn, chỉ còn trơ lại rác rưởi và bia vương vãi.
Gã chuột cống cười đắt ý. “Đó, tiệc tự chọn và bia miễn phí!”
“Yay!!!”
Local Specialty

Unit 13. Holiday & Culture 1

The Reunion

Mr Pott’s big moustache shook when he smiled. He said “Hello! My client would like to throw a party here tomorrow. How much is it to rent the venue?”
The old priest said, “I’m sorry, but this is a church. Generally, we do not let people rent it for celebrations. People come here to pray and to feel a sense of peace. Not to party.”
“Yes, yes,” said Mr. Potts. “But you have wedding, don’t you? Isn’t that a celebration?
“Yes, but not wedding parties. Wedding are serious occasions where relatives and guests come to pray for good luck for married couple.” The old priest pointed his finger. “The church isn’t here for silly festivals and fireworks, young man!”
But it’s for my client’s national holiday tomorrow,” said Mr. Potts. “Really it’s not a big party. Just a ceremony with his family.”
The old priest thought for a moment. “There’s no Vietnamese holiday tomorrow.”
“Oh, my client isn’t from Vietnam”
“No?”
“No.” Then Mr. Potts added. “And, he has a lot of money”.
“Oh?”. Asked the old priest.
“Yes. Is ten billion dong a good church offering”.
“TEN-BILL—!”. the old priest coughed. “Yes, it is. I welcome your client to my church.”
“Excellent!” Mr. Potts counted the money. Now, my client’s loved ones have big expensive cars. Where can we park them?”
“Anywhere,” said the old priest while taking the money. “Please. Feel at home. And good luck”
Mr. Potts said. “Fantastic.”
Two days later, the priest found many huge, brown, smelly things on the pavement around his beautiful church.
He called Mr. Potts “What did you do to my church?? It smells terrible!”
“OH, I didn’t tell you my client was a prince from India?”
The old priest face went red. “You said big cars!”
“I meant elephants”
Bộ ria mép vĩ đại của anh chàng Potts rung lên khi anh cười. Anh nói, “Xin chào, khách hàng của tôi muốn throw a party (tổ chức một bửa tiệc) tại đây vào ngày mai. Thuê chỗ này hết bao nhiêu tiền vậy?”
Vị priest già nói, “Tôi xin lỗi, nhưng đây là nhà thờ. Generally, Chúng tôi không cho mọi người thuê nó để tổ chức celebrations. Mọi người đến đây để pray và cảm thấy bình yên. Không phải để party.”
“Vâng vâng,” Potts gật gù. “Nhưng các ông có tổ chức weddings, đúng chứ? Đó không phải là một buổi lễ ăn mừng à?”
“Đúng, nhưng không phải wedding parties. Hôn lễ là những occasions nghiêm túc, nơi relativesguests tới để pray for good luck (cầu mai mắn) cho đôi vợ chồng mới cưới.” Vị linh mục già chi tay. “Nhà thờ không ở đây để phục vụ cho những festivals hay fireworks ngớ ngẩn, chàng trai trẻ ạ!.”
“Nhưng đó là cho National Holiday (ngày nghi lể toàn quốc) của khách hàng của tôi vào ngày mai,” Potts khẩn khoản. “Thật mà, nó không phải là một bữa tiệc to tác gì. Chỉ là một buổi ceremony với gia đình của ông ta.”
Vị linh mục suy nghĩ một lúc. “Không có một ngày lễ nào của Việt Nam vào ngày mai cả.”
“À khách hàng của tôi không tới từ Việt Nam.”
“Không phải à?”
“Không.” Potts thêm vào. “Và ông ta có rất nhiều tiền đấy.”
“Vậy sao?” linh mục hỏi.
“Mười tỷ đồng có phải là một offering tốt cho nhà thờ không?”
“MƯỜI!…T…!” Vị linh mục già hắn giọng. “Vâng, rất tốt. Xin welcome khách hàng của cậu tới nhà thờ của tôi.”
“Tuyệt vời!” Potts đếm tiền. “À, những loved ones (những người thân yêu) của khách hàng tôi có những chiếc xe lớn và đắt tiền. Chúng tôi có thể để chúng đổ ở đâu nhỉ?”
“Bất cứ ở đâu,” Vị linh mục vừa nói vừa nhận tiền. “Xin mời. Feel at home (cảm thấy như đang ở nhà). Và chúc luck.”
Hai ngày sau vị linh mục thấy rất nhiều cục to to, nâu nâu và bốc mùi trên vỉa hè quanh nhà thờ xinh đẹp của mình.
Ông gọi ngay cho Potts. “Cậu đã làm cái gì với nhà thờ của tôi?? Nó có mùi thật kinh khủng!”
“Ôi tôi chưa nói với ông khách hàng tôi là một hoàng tử Ấn Độ à?”
Mặt linh mục đỏ bừng. “Cậu chỉ nhắc đến những chiếc xe lớn thôi mà!”
“Ý tôi là những con voi.”
The Reunion

Unit 14. Holidays & Culture 2

Meant To Be

The marriage between Ben and Mary took place on Saturday. It was beautiful day, but not everyone was happy.
You see, Ben was a monkey. And he was under pressure to get married, but he didn’t like any of the monkey girls. “They have hairy face” he complained to his family. “You can’t expect me to marry a hairy girl!”
“Well, Ben, we must all follow the rule of our culture”, said his family. “It boots family bonding”.
But Ben didn’t have much care for rules. Maybe it wasn’t normal, but he didn’t worry about their cultural differences. He just liked girls with long legs and pretty eyes and fat lips. So, Ben’s dad told Ben go to see a fortune teller. “If she tell your fortune and say you’ll marry a monkey girl with hairy cheeks, then you must respect it. Right?”
“That’s fair”
Well. Ben return from the fortune teller with a strange smile. He told his family what she told him. “No!” His father said. “I don’t believe it!”
His father was clearly angry.
So, Ben’s bride was really hot, with pretty eyes and fat lips.
At the wedding, all animals whispered:
“This is such a taboo”
“The difference between them is too much”
“The fortune teller is never wrong. It’s meant to be”
Ben was the happiest monkey. Mary had long, sexy legs. In fact, Ben had to climb a tall pillar just to reach her face and kiss her. Then Ben the monkey and Mary the giraffe walked away feeling happy.
Ben’s father ran to shout at the fortune teller. He found her packing her stuff.
“Where are you going? Asked Ben’s father”.
“Oh, I bought a house on the beach. Young Ben paid me a really big tip for his fortune. Such a nice boy.”
Marriage của Ben và Mary diễn ra hôm thứ bảy. Đó là một ngày đẹp trời, nhưng không phải ai cũng hạnh phúc.
Bạn thấy đấy Ben là một chú khỉ. Và chú ta was under pressure to (chịu áp lực phải làm điều gì..) cưới vợ, nhưng chú không thích một cô khỉ nào cả. “Mặt chúng nó toàn lông và lông” chú phàn nàn với gia đình. “Mọi người không thể expect con phải cưới một đứa con gái đầy lông lá thế được!”
“Tất cả chúng ta đều phải follow rules của nền văn hoá chung,” mọi người nói. “Điều đó boosts family bonding (tăng tính gắng kết trong gia đình).”
Nhưng Ben ít khi dành care đến những luật lệ. Có thể điều đó không normal, nhưng chú ta chẳng bận tâm gì về cultural differences (sự khác biệt về văn hoá) của hai người cả. chú chỉ thích những cô gái có chân dài, mắt đẹp và bờ môi căng mọng. Thế là bố Ben bảo Ben đến see a fortune teller (đi xem bói). “Nếu bà ấy tells your fortune (tiên đoán số mệnh) và nói rằng con sẽ lấy một cô khỉ với hai má đầy lông, thì con cũng phải respect điều đó. Rõ chưa?”
“Cũng fair ạ.”
À thì Ben trở về từ chỗ bà thầy bói với một nụ cười strangle trên mặt. Chú kể với gia đình những điều bà thầy bói nói với mình. “Không!” bố chú gạt đi. “Ta không believe đâu!”
Bố chú rõ ràng là rất angry.
Và rồi cô dâu của Ben cực kỳ nóng bỏng, với đôi mắt tuyệt đẹp và bờ môi căn mọng.
Tại đám cưới muỗm thú thì thầm với nhau:
“Đúng là một taboo!”
“Có quá nhiều difference giữa chúng.”
“Thầy bói không bao giờ nói sai. Đó chính là điều meant to be (duyên tiền định).”
Ben là chú khỉ hạnh phúc nhất. Chân của Mary rất dài và gợi cảm. thực sự thì, Ben còn phải trèo lên một cái pillar cao mới có thể với tới mặt cô và hôn cô.
Và rồi chàng khỉ Ben cùng cô hưu cao cổ Mary sánh đôi bước đi, lòng ngập tràn hạnh phúc.
Bố Ben chạy tới mắng bà thầy bói. Ông thấy bà ta đang gói ghém đồ đạc.
“Bà định đi đâu đấy hả?” Bố Ben hỏi.
“À, Tôi vừa mua một căn nhà bên bờ biển. Cu Ben trã tôi rất hậu vì đã xem cho nó. Đúng là một thằng bé ngoan!”

Unit 15. Weather & Seasons

Saigon Golden Rules

When Mai first visited Saigon, it was the beginning of the rainy season. However, when her tour guide took her around Saigon, it was a pleasant day.
“To survive rainy days in Saigon, remember rule no.1: always bring a good raincoat. Saigon rain is as unpredictable as my ex-girlfriend”, he explained. As soon as he finished talking, a shower of rain started falling. Mai told him to grab the raincoats.
The guy stopped her, “Hold on! Rule no.2: don’t put on a raincoat too soon. The drizzle may last for a minute and then stop like nothing ever happened.’
As they were driving, thick dark clouds approached the sky. This time, the guy pulled over and grabbed two raincoats form the boot. As soon as they put their raincoats on, they sky cleared.
“Rule no.3: don’t take of your raincoat too soon when it’s sunny again. The rain here is very nasty.”
“But I feel too blazingly hot in this raincoat,” Mai insisted.
“Bear the heat; it could save you from getting wet any minute now”.
Then it started raining cats and dogs. “The guy is right” Mau thought. But it wasn’t over yet. After a while, the whole street flooded.
The guy stopped again, and to her surprise, he took out two pair of rubber boots.
“Put this on! We are going to walk. We can’t drive in this awful flood with such high winds”.
“You are so well-prepared. You must have checked out the weather forecast.”
“Actually, rule no. 4: never trust the weather forecast,” he replied.
As they were stuck in the middle of the traffic jam and the flood, the temperature dropped, and Mai felt like there had been a cold spell. She wondered when would be the end of all of this.
“The weather forecast was for a sunny day. Darn it”
Lần đầu tiên Mai tới Sài Gòn là vào beginning của rainy season. Tuy nhiên, khi người hướng dẫn viên đưa cô đi tham quan thành phố, hôm đó lại là một ngày có thời tiếc pleasant.
“Để sống sót qua những ngày mưa ở Sài Gòn, Hãy nhờ nguyên tắc số 1: luôn mang theo mình một chiếc áo mưa tốt. Mưa Sài Gòn khó đoán y chang nhỏ bồ củ của tui á,” anh hướng dẫn viên giải thích.
Anh vừa dứt lời một trận shower bắt đầu trút xuống. Mai bảo anh lấy mấy cái áo mưa ra.
Anh ngăn cô, “Từ từ! Nguyên tắt số 2: Đừng mặc áo mưa quá sớm. Cơn mưa drizzle có khi chỉ kéo dài một phúc rồi tạnh, như chưa hề có chuyện gì xảy ra vậy.”
Khi họ đang lái xe, những đám clouds đen, dày approached bầu trời. Lần này, anh chàng hướng dẫn viên tấp vào lề và lôi ra hai chiếc áo mưa từ trong cốp xe. Ngay khi họ vừa mặc chúng vào người, bầu trời lại quan đãng.
“Nguyên tắc số 3: Đừng cởi áo mưa ra quá sớm khi trời đang sunny trở lại. Mưa nắng ở đây nasty lắm.”
“Nhưng mặc cái áo mưa này tôi thấy nóng nực kinh khủng ý.” Mai nài nỉ.
Bear the heat (chịu sức nóng) đi; nó sẽ giúp bạn khỏi bị ướt lúc nào không biết đâu.”
Rồi trời bắt đầu raining cát and dogs (mưa xối xã). ”Đúng như hắn nói thật,” Mai nghĩ. Nhưng mọi thứ vẫn chưa dừng lại ở đó, một lúc sau cả con phố ngập trong nước. Anh chàng hướng dẫn viên lại đỗ lại, và lôi ra hai đôi ủng cao su trước sự ngỡ ngàn của cô.
“Xỏ vào đi, đến đoạn này thì phải cuốc bộ thôi. Không thể lái xe trong cái trận flood awful cùng với high winds như thế này được.”
“Anh chuẩn bị kỹ thật đấy. chắc anh xem weather forecast (dự báo thời tiếc) rồi nhỉ.”
“Thực ra thì, nguyên tắc số 4: đừng bao giờ tin vào dự báo thời tiếc hết,” anh đáp.
Khi hai người đang mắc kẹt middle tắt đường và lụt temperature dropped, và Mai cảm thấy như đang có một cold spell (đợt rét) vậy. Cô tự hỏi không biết bao giờ mới đến end của toàn bộ những thứ này.
“Dự báo thời tiếc còn nói hôm nay trời nắng ạ, Quá đáng!” 
Saigon Golden Rules

Unit 16. Food, Drinks & Cuisine 1

Just For Flavor

Minh had a small restaurant in the village. He boiled instant noodles with bacon. He grilled many yummy dishes and made a great hotpot. People said that Minh’s crispy pork was the best in the area, and his sauces for grilled pork skewers were amazing. Some were sweet, while others were savoury.
However, the challenge came when a Western tourist arrived on a scooter. He had thick beard and long, untidy hair.
He asked, “Can I see your menu?”.
Minh never had a menu. He just cooked what was in the market, and said, “Eat up”. And everyone made pigs of themselves in his restaurant. So, Minh said “No menu. Tell me what you want”.
“Oh, Hmm. Can I have something vegetarian?”
“No problem. I can prepare some fresh spring rolls and my special noodle soup with beef.”
The tourist said, “But there’s beef in the soup?”
“Just for flavor”
“I can’t eat it. What’s in the spring rolls?”
Minh replied, “Pork, just for flavor”.
“I can’t eat that either.”
This was tough. “I can stir-fry something with a little pig stomach, just for flavor.”
The tourist said he couldn’t eat that either.
“I have eggs.”
“I don’t eat eggs”.
“What kind of person is this??” Minh thought hard, and then he said, “I’ll make you a good, healthy soup. No meat!” The tourist agreed, and when Minh brought the bowl of soup, the tourist tried it.
“Oh wow. This is really nice and light!”
“Grandmother’s recipe”, Minh said. Then he went into the kitchen, where his wife was. She asked him what he had cook for the tourist.
“Boiled water. With salt, just for flavor”
“Can he eat salt?” She whispered.
“Not my problem”.
Minh có một nhà hàng nhỏ trong làng. Anh boiled instant noodles (mì ăn liền) với bacon. Anh grilled rất nhiều món yummyhotpot anh làm thì tuyệt cú mèo. Mọi người cho rằng món thịch lợn crispy của Minh là ngon nhất vùng, và những loại sauces anh dùng cho các món grilled pork skewers (thịt xiên nướng) thì thật đáng kinh ngạc. Một số món thì sweet, trong khi số khác thì lại savoury.
Tuy nhiên, thử thách xuất hiện khi một du khách phương Tây tới quán trên một chiếc xe tay gas. Anh ta có một bộ râu rậm rạp và máy tóc dài, vô tổ chức. Anh ta hỏi, “Tui có thể see your menu không?”
Minh chả bao giờ có thực đơn cả. Anh chỉ nấu với những gì có ở chợ, và bảo khách, “Eat up (ăn hết đi)”, và tất cả mọi người cứ thế made pigs of themselves (make pigs of oneself – ăn ngấu nghiến) khi vào nhà hàng của anh. Thế nên Minh nói, “Không có thực đơn. Anh muốn ăn gì thì cứ bảo tui.”
“Ồ. Xem nào. Cho tui món gì đó vegetarian được không?”
“Chuyện nhỏ. Tui có thể prepare và fresh spring rolls (nem cuốn) cùng món bún bò đặc biệt này.”
Anh chàng du khách thắc mắc, “Thế thì sẽ có beef trong súp à?”
“Cho vào cho có vị thôi”
“Tôi không thể ăn món đó được. Mà trong nem cuốn có gì đấy?”
Minh trã lời, “Pork cho có vị thôi.”
“Tui cũng không ăn cái đó được.”
Khoai nhỉ. “Tui có thể stir-fry món gì đó với một chút stomach lợn, cho có vị thôi.”
Anh du khách bảo cũng không thể ăn được món đó nốt.
“Tui có trứng nè.”
Tui không có ăn được trứng.”
“Khách khứa kiểu gì thế này??” Minh vò đầu bức tai, rồi nói, “Tui sẽ làm cho anh một món soup cực ngon và bổ. Không thịch nha!” Anh du khách đồng ý, và khi minh bưng bát súp tới, anh nếm thử nó.
“Ái chà chà. Quá ngon và thanh đạm luôn!”
“Công thức của bà tui đó, “Minh trã lời. Rồi anh đi vào bếp, vợ anh cũng đang ở trong đó. Chị hỏi anh đã nấu gì cho anh chàng du khách.
“Nước đun sôi. Thêm chút muối, cho có vị thôi.”
“Ổng ăn được muối không vậy?” vợ Minh thì thầm.
“Hông phải việc của tui.”
Just For Flavor

Unit 17. Food, Drink & Cuisine 2

The Real Men

“Train Your Manliness in Five Pages!” Peter bought the book and started read it on the bus. He noticed girls giggling at him.
Page one said “Don’t take a bus dude, get a car.” Peter jumped off the bus while it was moving, and went to a cafe to read this book.
He read page two. “No, don’t order jasmine tea. Dude! Forget the detox! Oder coffee like a man!”  Peter was about to order an egg coffee, when he read the next sentence: “And not egg coffee, Hens lay eggs and weasels eat hens. So, stop laying egg and order weasel coffee.”
Peter’s coffee was strong. He never drank black coffee so after ten minutes, he was shaking.
Page three said, “Is it Friday afternoon? Dude, that’s called beer o’clock. You need a drinking buddy. Call this number now.” Peter called the number listed on the page, and almost immediately, a man arrived. “I got your call! You thirsty?”
“Er… How did you…?”
“Never mind! Let’s get some alcohol”.
So, they went drinking. They started with beers. “One.. two.. three cheers!” Then they tried different bottles of rice wine. The drinking buddy poured the bottles into shots. “Drink up! This is called a MAN SMOOTHIE” said the man.
Peter got tipsy. Then his legs became useless. He couldn’t even stand.
Peter woke up on the floor of his house without his shirt. It was morning, he had a pizza in his pocket and a hangover from hell.
Peter ran to the toilet. He found there on the floor.
Page four said, “Real men don’t vomit. You’re wasting money.”
Peter hated the book. He decided he could never again take advice from anyone he doesn’t know, but the opened page five anyway. It said, “Real men don’t take advice from someone they don’t know. Respect yourself dude.”
“Rèn Luyện Sự Nam Tính Của Bạn Chỉ Trong Năm Trang!” Peter mua cuốn sách này và bắt đầu đọc trên xe buýt. Cậu để ý thấy có mấy cô gái đang nhìn mình và cười khúc khích.
Trang thứ nhất viết, “Đừng đi xe buýt, chàng trai. Kiếm một cái ô tô đi. “Peter nhảy khỏi xe khi nó vẫn đang chạy, và đến một quán café để đọc sách.
Cậu đọc tới trang thứ hai. “KHÔNG, Đừng gọi jasmine tea (trà hoa nhài). “Bạn ơi! Quên mấy thứ detox đi! Gọi coffee NHƯ MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG đi nào!” Peter chuẩn bị gọi một ly egg coffee (cà phê), khi cậu đọc tiếp đến câu tiếp theo. “Và không phải là café trứng đâu đấy. Gà đẻ trứng, rồi chồn ăn gà. Vì thế nên đừng có đẻ trứng nữa và hãy gọi café chồn đi.”
Cà phê của Peter rất đặc. Cậu chưa uống black coffee bao giờ, nên chỉ sau mười phút, người cậu bắt đầu run bần bật.
Trang thứ ba viết, “Có phải đang chiều thứ Sáu không? Bồ tèo à, tầm này là beer o’clock (giờ uống bia) đấy. Và cậu cần một drinking buddy (bạn nhậu). Gọi số này ngay. “Peter gọi đến số điện thoại viết trên trang sách, và gần như ngay lập tức, một gã xuất hiện. “Tớ nhận được điện thoại của cậu rồi! Cậu thirsty à?”
“Ơ… Sao mà cậu…?”
“Đừng bận tâm! Kiếm ít alcohol nào.”
Thế là họ đi drinking. Bắt đầu với beers. “Một… hai… ba… cheers! Rồi họ thử mấy bottles wine nếp. Gã bạn nhậu poured rượu thành từng shots. “Drink up (uống cạn)! Đây gọi là SMOOTHIE DÀNH CHO ĐÀN ÔNG,” gã nói. Peter bắt đầu thấy tipsy. Rồi chân cậu trở nên useless. Cậu thậm chí còn không đưng nổi.
Peter tỉnh dậy trên sàn nhà của mình, không mặc áo. Đã là buổi sáng rồi. Cậu có một miếng pizza trong túi và một hangover tồi tệ. Peter chạy ngay vào nhà vệ sinh. Cậu thấy quyển sách trên sàn nhà.
Trang thứ tư viết, “Đàn ông đích thực không nôn. Cậu đang phí phạm tiền bạc đấy.”
Peter ghét cuốn sách. Cậu quyết định không bao giờ nhận lời khuyên từ người lạ nữa, nhưng cậu vẫn mở nốt trang thứ năm. Nó viết, “Đàn ông đích thực không nhận lời khuyên từ người họ không biết. Hãy tôn trọng bản thân, anh bạn ạ.”
The Real Men

Unit 18. Food, Drink & Cuisine 3

The Devil’s Sauce

Mi and his brother Chin  wanted to open a easy business but didn’t know what to do. One night, the Devil came to Mi with a big bottle. “Try my sauce. It changes the flavour of food to one’s taste”
Mi ran to Chinh. “Let’s open a restaurant!”
Chinh laughed. “We don’t know about cooking, or recipes, or food sanitation. Do you know anything about seasoning? Anything we cook will be terrible or it will make someone’s stomach feel funny”
“But I have a secret”
Mi put the devil’s sauce one some vegetables that are usually quite plain, then gave them to Chinh. Their flavor became nice and strong.
Chinh was suspicious. “Who gave this to you”
“Who cares?”
“Well, let’s use just a little” said Chinh.
In one year, they had restaurant with Vietnamese, Japanese, Korean and even French cuisine. Some sold takeaway. Others even sold raw food. Customers said the food was out of this world.
Chinh and Mi grew rich and fat. They soon ran out of fresh ingredients. Their customers had eaten everything.
So they started cooking anything. They sold old leftovers and customers couldn’t tell the difference. Later, they cooked grass, trees, and then small animals. Then they cooked things from their house, likes cushions and tissue paper. They cooked the sink, and customers said it was delicious.
Mi bought a new house and cooked it. Then another, and another. They cooked every house, and every house tasted great. Yet, their hunger only grew.
They ate everything, until one day, the world was empty. Nothing at one was left except Mi, Chinh and all the people. They were all too fat to move.
That’s when the evil returned.
“Oh, I’m so hungry,”  he said. He took the bottle of secret sauce and poured it on everyone. “Mm,” he said. “I LOVE MSG.”
Mì và người anh em, Chính muốn khởi nghiệp bằng một thương vụ dễ dàng nhưng không biết nên làm gì.
Một hôm ác quỷ tìm đến Mì với một cái chai to. “Thử món sốt của ta đi. Nó sẽ thay đổi flavor của đồ ăn to one’s taste (phù hợp với khẩu vị của mọi người).”
Mì chạy đến chỗ Chính. “Mở nhà hàng thôi em ơi!”
Chính cười. “Bọn mình chả biết gì về cooking, recipes hay food sanitation (vệ sinh thực phẩm) cả. Anh có biết gì về seasoning không? Mình có nấu món gì cũng sẽ terrible thôi, hoặc nó sẽ make someone’s stomach feel funny (khiến dạ dày của ai đó thấy nhộn nhạo).”
“Nhưng anh có một secret.”
Mì cho nước sốt ác quỹ vào mấy cọng rau mà thường thì khá plain, rồi đưa cho chính. Vị của chúng trở nên cực strong và ngon.
Chính ngờ vực. “Ai đưa anh cái này thế?”
“Ai quan tâm cơ chứ?!”
“Chà. Hay cứ dùng một ít vậy,” Chính nói.
Trong một năm, họ mở nhiều nhà hàng với cuisine từ Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc và thậm chí cả Pháp. Một số bán đồ takeaway. Số khác thậm chí còn bán đồ raw. Các thực khách khen rằng đồ ăn was out of this world (tuyệt vời ông mặt trời).
Chinh và Mì trở nên giàu có và béo tốt. Họ nhanh chóng dùng hết các nguyên liệu fresh. Khách hàng đã ăn mọi thứ.
Thế là họ bắt đầu nấu bất cứ thứ gì có thể. Họ bán cả đồ leftovers đã cũ, và khách hàng còn không thể tell the difference (phân biệt được khác nhau). Sau đó họ nấu cả cỏ cây, và động vật nhỏ. Và rồi họ còn nấu cả đồ đạc từ nhà của mình, như là gối và giấy ăn. Họ nấu cả cái bồn rữa, và thực khách khen rằng nó rất delicious.
Mì mua một căn nhà mới và nấu nó, và rồi một căn khác, một căn khác nữa.
Họ nấu mọi căn nhà, và mọi căn nhà đều tasted great (có vị rất ngon). Dù vậy hunger của họ vẫn ngày càng tăng.
Họ ăn tất cả mọi thứ, cho đến khi trái đất trống trơn. Không thứ gì còn sót lại, trừ Mì, Chính và toàn bộ những người khác, Tất cả họ đều quá mập để có thể di chuyển.
Đó là khi Ác Quỷ trở lại.
“Chà, ta đói ngấu rồi đây,” hắn nói. Hắn lấy chai nước sốt, đổ lên tất cả mọi người. “Mmm,” hắn tấm tắc. “Ta yêu mì chính.”
The Devil’s Sauce

Unit 19 Daily Diet, Fruits & Vegetables 1

How To Kill A Bad Man

His name is secret. No one know it. He is a assassin: he kill people for money, so he’s a bad man. But wait. Watch…
Right now, the assassin is going to kill a very bad man: a corrupt businessman on the top floor of the tower. The assassin is climbing the wall of the tower, like a cat.
You see, he is very strong. He follow a strict diet. He had eaten only healthy food since he was young to stay fit. May of us eat junk food with crappy ingredients all our lives. We eat foods with large amount of sugar, which make us fat and speeds up our ageing process. We’re lazy and not efficient, to the point that even a litle exercise is tiring.
Not this guy.
He only eats a diet of home-cooked meals that have high energy and no food additives. He always stays hydrated and never gets food poisoning.
That’s why he can climb walls.
Look. He has arrived at the top of the tower. He steps onto the balcony. He’s very quiet, like a cat.
He walk to the windows. He looks inside. There he is. The corrupt businessman. He’s sitting in a chair facing the other way. He looks like someone who has too much money and eats too many disgusting things. Like someone who cheats everyone. He look like a bad man.
The assassin opens the windows quietly. He steps in. He walks one step, then two steps. He pull out his gun. The businessman turn around. He’s snaking on something.
“You’re a bad man” The assassin whispers.
“Er… Well! So are you!” Say the businessman.
“Prepare to die, you… what are you eating??”
The businessman asks, “what?”
The assassin coughs. He can’t breathe. “I’m… I’m… aaaaarrggghhh…. allergic… to…”
The businessman look at his hand, “Peanuts?”
“Call an ambulance!”
“No.”
Tên hắn là một bí mật. Không ai biết về nó. Hắn là một sát thủ: hắn giết người vì tiền. Vậy thì, hắn là một kẻ xấu. Nhưng đợi đã.
Lúc này đây sát thủ sẽ giết một kẻ rất xấu: một doanh nhân tha hoá trên tầng thượng của toà nhà. Sát thủ đang trèo lên tường của toà tháp, như một con mèo.
Bạn thấy đấy, hắn rất khoẻ. Hắn follows một strict diet. Hắn chỉ ăn đồ ăn lành mạnh từ khi còn trẽ để stay cân đối. Nhiều người trong số chúng ta ăn junk food (đồ ăn vặt) làm từ crappy ingredients suốt cả cuộc đời. chúng ta ăn những thứ đồ ăn với amount lớn sugar, thứ làm chúng ta phát phì và đẩy nhanh ageing process (quá trình lảo hoá) của chúng ta. Chúng ta lười nhát và không efficient, tới mức mà chỉ một bài tập thể dục nhẹ cũng đã đủ tiring.
Gã này thì khác.
Gã chỉ ăn theo a diet of (một chế độ ăn bao gồm) những bửa ăn home-cooked cung cấp nhiều năng lượng và không hề chứa food additives (các chất phụ gia thực phẩm). Hắn luôn stay hydrated (uống đủ nước) và không bao giờ bị food poisoning (ngộ độc thực phẩm).
Đó là lý do vì sao hắn có thể trèo tường như vậy.
Nhìn xem. Hắn đã lên tới đỉnh toà tháp. Hắn bước lên ban công, Hắn rất khẽ, như một con mèo.
Hắn bước tới cửa sổ, nhìn vào bên trong. Đối tượng kia rồi. Tên doanh nhân tha hoá. Gã đang ngồi trên ghế, quay mặt ra hướng còn lại. Trông gã giống một kẽ có quá nhiều tiền và ăn quá nhiều thứ kinh tởm. Giống một kẽ lừa gạt tất cả mọi người.
Trong hắn giống một kẻ xấu xa.
Sát thủ mở cửa trong im lặng. Hắn bước vào. Một bước, rồi hai bước. Hắn rút súng ra. Gã doanh nhân quay lại. Gã đang snaking một món gì đó.
“Mày là người xấu!” sát thủ nói khẽ.
“Ờ… Thì mày cũng thế mà!” gã doanh nhân đáp lại.
“Chuẩn bị chết đi, thằng… Mày đang ăn cái gì đấy??”
Gã doanh nhân hỏi, “Gì cơ?”
Sát thủ ho sặt sụa. Hắn không thể breathe được. “Tao… Tao bị… aaaa… allergic… với…”
Gã doanh nhân nhìn vào tay mình. “Peanust á.”
“GỌI CẤP CỨU ĐI!”
“Không.”
How To Kill A Bad Man

Unit 20. Daily Diet, Fruits & Vegetables 2

Herbs Are Life

Linh work for Research and Development department in a beverage company. Their competitor just launched a new organic drink: canned durian smoothie.
She held a meeting.
“We need to think of a new product to compete with them” Linh said
“How about cucumber?” Suggested someone.
It’s to tasteless, which means that we will need to add some kind of sweetener, but  our main customers want to cut down on sugar in their daily diet.”
I think young ladies prefer something sour and juicy. I propose grapefruit or kumquat.”
That’s nice, but i don’t think it can beat orange juice. We need something completely new.
I suggest mushroom. No one has ever produced mushroom juice”
“Hmm, mushroom can spoil easily”
“I have an idea. Instead of making some kind of fruit juice, we can make juice from vegetables and herbs. Besides, we will not make just one single flavor. A drink can consist of many different ingredients; for example we can blend cabbage, lettuce and onion together into one drink.”
Everyone in the meeting became excited. They jumped in to add to the idea.
Add basil in too. It will enhance the flavor.
“Planting and harvesting herbs will not be too complicated.”
“Drinking herb juice is a good way to get rid of body fat too.”
And so, their product was launched. It received a huge number of followers.
To celebrate the success, the whole team decided to throw a surprise party at Linh’s house.
That evening, Linh dropped by the supermarket to buy some groceries. When she got home, everyone cheered, “SURPRISE!!!”
Linh was so surprise and dropped her shopping bags.
“Linh, what is this”
“Oh no, Linh!! Don’t tell us you’re drinking our competitor’s durian juice!”
“How dare you?? You should throw it up!”
“I’m sorry,  but it really delicious. It’s not as weird as our new drink!”
Linh làm việc ở Phòng Nghiên cứu và Phát triển sản phẩn trong một công ty nước giải khát. Công ty đối thủ vừa tung ra một loạt đồ uống hữu cơ mới: Sinh tố durian đóng hộp.
Cô tổ chức một cuộc họp .
“Chúng ta cần nghĩ ra một sản phẩm mới để cạnh tranh với họ,” Linh nói.
Cucumber thì thế nào nhỉ? Ai đó đề xuất.
“Nó nhạt nhẽo lắm, thế thì mình phải thêm chất làm ngọt, nhưng những khách hàng chính của chúng ta lại muốn cut down on (cắt giảm) lượng đường trong daily diet (chế độ ăn hàng ngày) của họ.”
“Mình lại nghĩ mấy cô gái trẽ sẽ thích cái gì đó sourjuicy hơn. Mình đề nghị grapefruit hoặc kumquat.”
“Được đấy, nhưng mình không nghĩ nó sẽ được ưa chuộng hơn nước cam đâu. Chúng ta cần thứ gì đó hoàn toàn mới.”
“Mình đề xuất mushroom. Trước giờ chưa có bên nào sản xuất nước nấm ép cả.”
“Hừm, nhưng nấm dễ spoil lắm.”
“Mình có ý này. Thay vì làm nước quả ép, chúng ta có thể làm nước ép từ các loại rau và herbs. Thêm nữa sẽ không có chỉ duy nhất một vị, một đồ uống có thể consist of (bao gồm) nhiều thành phần khác nhau; ví dụ ta có thể trộn cabbage, lettuceonion vào cùng một loại đồ uống .”
Tất cả những người tham dự điều trở nên thích thú. Mọi người thi nhau bổ sung thêm vào ý tưởng.
“Thêm cả basil vào nữa. Nó sẽ giúp enhance the flavour (gia tăng hương vị).”
“Việc plantingharvesting các loại thảo mộc cũng không quá phức tạp.”
“Uống nước ép thảo mộc là một cách hiệu quả get rid of body fat (loại bỏ lượng mở trong cơ thể) nữa.”
Và thế là sản phẩm của họ được tung ra. Nó nhận được sự quan tâm của rất nhiều người.
Để ăn mừng thành công, cả đội quyết định tổ chức một bữa tiệc bất ngờ ở nhà Linh.
Tối đó Linh ghé qua siêu thị để mua mấy món đồ lặt vặt. Khi cô vừa bước vào nhà, mọi người hét lên, “NGẠC NHIÊN CHƯA!!”
Linh ngạc nhiên đến độ đánh rơi cả mấy túi đồ vừa mua.
“Linh à, cái gì đây?”
“Ồ không Linh!! Đừng nói là cậu uống nước ép sầu riêng của cái bọn đang cạnh tranh với công ty mình đấy nhé!”
“Sao cậu lại làm như thế?? Cậu nên nôn nó ra ngay đi!”
“Mình xin lỗi, nhưng nó ngon thật mà. Nó lại còn không quái dị như đồ uống mới bên mình nữa!!”
Herbs Are Life

Unit 21. Country Life & Nature 1

Local Customs

The family of buffalo lived in the peaceful countryside away from the city and the farms. They climbed through a range of step hills and went to the river to drink and slept under the stars. They enjoyed a slower pace of life.
One day, a young buffalo decided to explore in a different direction. He leisurely walked his way past a rice field until he saw some farm animals near a rural area.
And one of the cows was hot!
She had beautiful eyes, and the way she moved her tail was so sexy.
Now, buffalo custom said that you had to ask the head of the herd for permission before you can talk to any girls, but maybe the local customs here were different. So he walked to the cow and talked to her.
“I grew up on a small farm near that suburb over there” she said.
“What’s suburb?” The buffalo asked.
It’s a quiet area of town with friendly neighbors  and a strong sense of community
“Oh, well. I grew up in the dangerous part of the country” he said, trying to impress her.  “I had to deal with flies, bugs that bite and drink my blood, and sometimes lions. Only the strongest buffalo can live there.”
Wo, she said. “You sound like a brave buffalo.”
“You have a boyfriend?” He asked.
“No.”
“You want a boyfriend?”
The cow licked the buffalo’s neck. He thought, “oh, she likes me.”
The cow smiled. “Mmm… yes,  I would, Mr. Brave Buffalo. Will you pick the best grass for me, brush my hair, protect me from all the bug and take me shopping every week?”
And the buffalo ran away. City girls were worse than lions.
Gia đình nhà buffalo sống ở một miền peaceful countryside (vùng nông thôn bình yên) cách xa thành phố và những trang trại. Họ leo qua một range những quả đồi steep và đi đến bên sông để uống nước và nằm ngủ dưới những vì sao. Họ tận hưởng một nhịp sống chậm rãi.
Một ngày, một chú trâu trẻ quyết định đi explore theo một hướng khác. Chú ta bước đi leisurely ngan qua một rice field (ruộng lúa) cho tới khi nhìn thấy một đám gia súc gần một rural area (vùng nông thôn).
Và trong đó có một cô bò trông thật nóng bỏng!
Cô ấy có đôi mắt tuyệt đẹp và cách cô ấy ve vẩy đuôi thật là gợi cảm.
Bình thường, custom của trâu quy định phải có permission của đầu đàn trước khi nói chuyện với bất cứ cô gái nào, nhưng có thể local customs (phong tục địa phương) ở đây sẽ khác. Thế là chú tiến tới bắt chuyện với cô bò.
“Em grew lên ở một trang trại nhõ gần ngoại ô phía đằng kia,” cô nói.
“Ngoại ô là gì?” chú hỏi.
“Nó là một vùng quite của thị trấn với neighbors thân thiện và một sense of community (ý thức cộng đồng) bền chặt.”
“Ồ. Còn anh thì lớn lên ở dangerous part của đất nước,” chú nói, cố gắng gây ấn tượng với cô. “Anh phải deal with (xử lý) bọn ruồi, bọn bugs luôn rình để đốt và hút máu mình, và đôi khi có cả lũ sư tử. Chỉ những con trâu khoẻ nhất mới có thể tồn tại được ở đó.”
“Ái chà,” cô gật gù. “Có vẻ anh là một chàng trâu brave đấy.”
“Em có bạn trai chưa?” chú trâu hỏi.
“Em chưa.”
“Em muốn có bạn trai không?”
Cô bò liếm vào cổ chú. Chú hí hửng nghĩ, “Ồ ồ, cô ấy thích mình.”
Cô bò mỉm cười. “Mmm… Có, em muốn chứ, thưa Ngài Trâu Dũng Cảm. Ngài sẽ lựa cho em những đám cỏ ngon nhất, chải lông cho em, protect em khỏi lũ bọ, và đưa em đi mua sắm hàng tuần chứ?”
Và chàng trâu dũng cảm chạy mất dạng. Con gái thành phố còn đáng sợ hơn lũ sư tử nhiều.
Local Customs

Unit 22. Country Life & Nature 2

Goodbye Technology

Ben wanted to stay away from civilization completely because of technology. He spent too much time in front of a computer and had too many apps on his Iphone. His eyes were always red and tired.
So he quit his corporate job and moved to Nha Trang beach to be close to nature. He then smashed his expensive IPhone with hammer and threw it into the sea. Then he spent his life fishing and selling his fish.
He liked the coast. He was surrounded by gorgeous scenery and the islands nearby. Ben whished he could make a lot of money and stop fishing completely. Then, he could just lie on beach or swim around the coral reef all day.
One day, Ben found the bottle in the water with the map inside it. It said there was some gold hidden in the mountain. Ben returned to the beach, jumped in his car, and drove along the bay then finally turned west. He drove for many hours, passing villages, then lakes, and the  waterfalls. Thereafter, he drove through a forest on a very rough road until almost night.
Finally, he came to a big cave. The map said the gold was inside.
Ben was tired and cold, but he walked for hours and even walked through icy water in the cave.
Finally, he found a heavy, big metal box. It was very dark, so he turned on his lighter.
“Ah!!”  There were lots of big, black spiders everywhere. Ben hated spiders even more than technology. “Come on, Ben” he said. “Relax. Open the dark box, take the gold and go”
But the box was locked. It had a small digital screen, Ben touched it.
The screen turn on and said, “congratulations! You found the gold, please download out IPhone app to unlock the box.”
Ben muốn stay away from civilization (tránh xa văn minh) hoàn toàn bởi vì công nghệ. Anh đã dành quá nhiều thời gian để ngồi trước máy tính và có quá nhiều ứng dụng trên iPhone của mình. Mắt anh lúc nào cũng đỏ và mệt mỏi.
Thế là anh bỏ công việc văn phòng và move to bờ biển Nha Trang để be close to nature (gần với thiên nhiên). Tiếp đó anh dùng búa đập nát chiếc iPhone đắt tiền và ném nó into the sea. Rồi anh dùng toàn bộ thời gian để fishing và bán chỗ cá câu được.
Anh thích vùng coast. Anh được surrounded bởi gorgeous scenery và những islands gần kề. Ben ước mình có thể kiếm được thật nhiều tiền và không cần câu cá nữa. Lúc ấy thì anh chỉ việc lie on the beach (nằm trên bãi biển) hoặc bơi quanh những coral reef (rặng san hô) hết cả ngày.
Một ngày nọ Ben tìm thấy một cái chai trên mặt nước, bên trong có một tấm map. Nó nói rằng có vàng dấu trên mountains. Ben trở lại bãi biển, nhảy lên xe, lái dọc theo bờ bay, rồi rẽ sang hướng Tây. Anh lái xe nhiều giờ liền, đi qua làng mạc, rồi lakes, và cả những waterfalls. Rồi sau đó anh băng qua một forest trên một con đường cực kỳ rough cho tới khi đêm xuống.
Sau cùng, anh đặt chân vào một cave lớn. Theo tấm bản đồ thì chỗ vàng ở trong đó.
Ben đã rất mệt và lạnh, nhưng anh vẫn đi tiếp hàng giờ, thậm chí lội qua làn nước icy trong hang.
Cuối cùng anh cũng tìm thấy một cái hộp bằng kim loại cực kỳ to và nặng. Xung quanh rất tối, nên anh phải bật lighter của mình lên. “Ái!!” Có một đống những spiders to, màu đen ở khắp mọi nơi. Ben ghét lũ nhện còn hơn cả công nghệ. “Thôi nào, Ben,” anh tự nhủ. “Thư giản nào. Chỉ việc mở cái hộp chết tiệc này ra, lấy chỗ vàng và đi khỏi đây.”
Nhưng cái hộp lại bị khoá. Nó có một cái màn hình điện tử nhỏ. Ben chạm vào đó.
Cái màn hình bật lên và nói, “XIN CHÚC MỪNG!” Bạn đã tìm ra kho báu! Vui lòng tải ứng dụng dành cho iPhone của chúng tôi để mở hòm.”
Goodbye Technology

Unit 23. Health & Diseases 1

We Are Connected

Chinh was born in Ha Noi with a strange health condition.
You know when you go to a new house and find a switch that doesn’t do anything? Every other switch in the house turns something on, but that one switch does nothing?
Well, Chinh was born with a switch just like that, behind his head.
He had tried turning it on and off, but nothing happened. Now, Chinh really cared about his health. He exercised and took care of his body every day. He was in great physical health. But this switch, Chinh was anxious about it. Was he losing his mind. So, one day, as soon as he was awake in the morning. Chinh went to a doctor. “Doctor, I have a switch behind my head.”
“Wow.. ,” said the doctor. “Have you ever pressed it?”
“Many times. In front of the mirror, when I’m bored or watching tv, or in the toilet. Nothing happens”
The doctor was curious about his strange switch. He checked Chinh’s mind and body. He found that Chinh’s brain was not damaged and his body functioned normally. In fact, his body was quite muscular and he was still very mindful.
“I don’t know” said the doctor, “may i press it?”
“Do it”
The doctor pressed the switch. “CLICK!” Nothing extraordinary happened. He pressed it again. “Click! Click!… Click! Click!” Nothing.
“Well” said the doctor. “There’s nothing obviously wrong, but it’s kind of fun!”
“Yeah, it is”, Chinh said.
In Beijing another man, Chien was also at the doctor’s. He too was born with an unlikely health condition that made him fell embarrassed.
Doctor, fix it! This DARN light on top of my head. Sometimes, I’d be on a date, then it just go on and off and on and off…”
Chính sinh ra ở Hà Nội với một health condition (tình trạng sức khoẻ) kỳ lạ.
Bạn biết khi bạn vào một căn nhà mới và tìm thấy một cái công tắc không để làm gì cả chứ? Mọi cái công tắc khác trong nhà đều để bật một thứ gì đó, nhưng cái này thì chả bật cái gì hết?
Thì, Chính was born with một cái công tắc như thế, ở phía sau đầu.
Cậu đã thử bật và tắt nó, nhưng không có gì xảy ra hết. Chuyện là, Chinh thực sự cared đến health của mình. Cậu exercisedtook care of his body (chăm sóc bản thân) hàng ngày. Cậu đang có physical health (sức khoẻ thể chất) rất tốt. Nhưng cái công tắc này! Chính cảm thấy anxious về nó. Có phải cậu đang loosing his mind (mất trí)?
Vậy nên, một ngày, ngay khi vừa awake vào buổi sáng, Chinh đi gặp bác sĩ.
“Thưa bác sĩ, tôi có một cái công tắc ở sau đầu.”
“Ồ,” ông bác sĩ trầm trồ. “Cậu đã bao giờ thử ấn nó chưa?”
“Rất nhiều lần rồi. Lúc đứng trước gương, khi tôi buồn chán, khi đang xem TV, hoặc lúc đang trong nhà vệ sinh. Chả có gì xảy ra cả.”
Ông bác sĩ rất curious về cái công tắc kỳ lạ này. Ông kiểm tra mindbody của Chính. Ông thấy brain của Chính không hề bị damaged và cơ thể của cậu thì vận hành bình thường. Trên thực tế cậu còn có một cơ thể khá muscular, và cậu vẫn rất mindful.
“Tôi không biết nữa,” ông bác sĩ nói. “Tôi có thể bấm nó chứ?”
“Xin mời.”
Ông bấm cái công tắc.
“TÁCH!” Không có gì extraordinary xảy ra cả. Ông ấn nó lần nữa. “TÁCH! TÁCH! TÁCH! TÁCH…. “ không gì hết.
“Chà,” Ông bác sĩ kết luận. “Không có gì obviously bất ổn cả, nhưng kể ra cũng vui nhỉ!”
“Vâng, vui thật!” Chinh thừa nhận.
Ở Bắc Kinh, một người khác, Chiến, cũng đang ở the doctor’s (phòng khám). Anh cũng được sinh ra với một tình trạng sức khoẻ unlikely làm anh thấy rất embarrassed.
“Bác sĩ, giúp tôi với! Cái đèn chết tiệt trên đỉnh đầu của tôi này. Cứ thi thoảng, khi tôi đang trong một cuộc hẹn, nó lại bật rồi lại tắt, rồi lại bật rồi lại tắt, rồi lại bật rồi lại tắt, rồi lại bật rồi lại tắt…”
We Are Connected

Unit 24. Health & Diseases 2

First, The Motorbike

Quang woke up and got ready for work. He took the keys for his little old scooter, but instead, he found a new 1000cc Ducati  Superbike in the garage. Now people usually called Quang a chicken. He had a fear of anything that might cut his skin, break his leg or make him suffer from any kind of pain. He never did anything that might injure him seriously or even make him bleed a little.
So what was a motorbike like this doing there in his house?
Quang couldn’t even remember buying it or riding it home. He thought he might have serious illness, so he ran to the doctor.
The doctor asked him if he did drugs or if he hurt himself recently, if he had headaches or was under extreme stress. He said no. So the doctor did a check. He didn’t find anything, not even small diseases like a cold or a cough. “Do you have any pain? Are you suffering in any way? Or do you have a mental illness?” The doctor asked.
“No”
“Then you’re fine”
“What about cancer? Or diabetes? I eat a lot of sweet foods.”
The doctor shook his head. The he asked “do you have a girlfriend, Quang?”
“Yes, I just met someone”
“Is she hot?” Asked the doctor.
“Well…”
“Answer me, Quang. I’m your doctor”
“Yes, but why does that matter?”
“Then you might have a serious disease,” the doctor said. “It affects the minds of young men and makes them change into someone else without knowing”
“No!”
“Oh yes. First, the motorbike. Then you buy clothes. Then a house. Some even buy boats or buy companies for billions of dollars. It’s terrible disease”
“Doctor! Please help me. Is it curable.?”
“Sure, you can cure it tonight if you want. Just get a girlfriend who isn’t hot.”
Quang tỉnh dậy và chuẩn bị để đi làm. Cậu cầm lấy chùm chìa khoá của cái xe tay ga nhỏ cũ kỹ, nhưng thay vào đó, cậu lại thấy một con Ducati Supperbike 1000cc trong gara.
Bình thường, Quang hay bị mọi người gọi là con gà. Cậu mang một fear về thứ gì đó có thể cắt vào da cậu, break his leg (bị gảy chân), hay làm cậu suffer from (phải chịu đựng điều gì đó) bất cứ một kiểu đau nào. Cậu không bao giờ làm gì có thể injure mình seriously hoặc thậm chí là làm mình bless dù chỉ một chút.
Vậy một cái xe như thế này làm gì ở trong nhà cậu đây?
Quang thậm chí còn không thể nhớ việc mình đã mua hay lái nó về nhà nữa. Cậu nghĩ mình có thể đang mắc một serious illness (bệnh nghiêm trọng), nên cậu chạy đi gặp bác sĩ.
Bác sĩ hỏi liệu cậu có did drugs (chơi thuốc) hay hurt bản thân gần đây không, hay cậu có gặp phải cơn headaches nào, hay phải under extreme stress (chịu căng thẳng tột độ) hay không. Quang nói không. Thế là vị bác sĩ thực hiện một check. Ông không tìm thấy gì cả, dù chỉ là những diseases nho nhỏ như một cơn cold hay một cough. “Cậu có pain nào không? Cậu có đang suferring dưới bất cứ hình thức nào không? Hay liệu cậu có mental illness (bệnh tâm thần) nào không?” Vị bác sĩ hỏi.
“Không ạ”
“Vậy thì cậu ổn mà.”
“Thế còn cancer thì sao ạ? Hoặc là diabetes? Cháu ăn rất nhiều đồ ngọt ạ!”
Vị bác sĩ lắc đầu. Rồi ông hỏi, “Cậu có bạn gái không Quang?”
“Có ạ, cháu mới gặp một người.”
“Cô ấy nóng bỏng chứ?” Vị bác sĩ hỏi tiếp.
“À thì…”
“Trả lời tôi nào Quang. Tôi là bác sĩ của cậu mà.”
“Có ạ, nhưng mà thế thì liên quang gì ạ?”
“Thế thì cậu có thể mắc một căn bệnh nghiêm trọng rồi,” vị bác sĩ nói. “Nó ảnh hưởng đến tâm trí của những chàng trai trẽ và khiến họ trở thành người khác mà chính bản thân họ không nhận thức được.”
“KHÔNG ĐÂU!”
“Có đấy, đầu tiên là cái xe máy. Rồi cậu mua quần áo. Rồi một căn nhà. Vài cậu còn mua du thuyền hoặc công ty với giá hàng tỷ đô la. Nó là một căn bệnh kinh khủng.”
“Bác sĩ ơi! cứu cháu với! Nó có curable không ạ?”
“Có chứ, cậu có thể chữa nó ngay tối nay, nêu cậu muốn. Chỉ việc kiếm một cô bạn gái không nóng bỏng là được.”
First, The Motorbike

Unit 25. Treatment & Medicine

Sleep Well

 Hai went back to the general doctor that he saw the previous week. “These pills you gave me didn’t work!”
“Really? Why”
He said that pills were support to put him in a deep sleep so that his strange nightmares would stop.
“But now, I just get a different nightmare. I haven’t had a goodnight’s sleep in a long time!”
The doctor considered the problem. Hai was a little fat. The doctor explained to his patient, “well, sometimes the effect is lessened if you’re dehydrated or eating a lot of fat. Are you drinking enough water and eating healthy?”
Hai admitted that he took the pills with a beer instead of water. He promised to change.
The next week, Hai went back to the hospital. “Doctor! I’m telling you, being on medication is not helping. I’m still not getting any proper rest”
“What’s the nightmare this time?”
“My mother-in-law was a crocodile, i tried to steal her TV, and she tried to shoot me with a gun. It was really scary.”
“Well, the doctor said, “those pill work slowly, so finish this medicine course i gave you, and let’s see next week.”
The next week. Hai returned. He looked exhausted, and he had lost weight. “Doctor, please. I’m so tried”
The doctor said, “let me make a phone call” then he left the room.
When he returned, he brought a new packet of capsules. “Okay, Hai, I made a phone call and went to the pharmacy. Here is the better medicine”, the doctor said, but first lock your door.”
“Why?”
Did you notice your legs? They’re very fit. Hai. You used to be fat.”
Hai looked at his legs. “Interesting. So?”
“I called your mother-in-law. She said you go there every night and try to take he tv, and she has to run after you with a gun.
Hải quay lại chỗ ông general doctor (bác sĩ đa khoa) mà cậu đã đến khám tuần trước đó.
“Đống pills mà ông đưa tôi chẳng có tác dụng gì cả!”
“Thật à? Tại sao vậy?”
Hải nói rằng chỗ thuốc lẽ ra phải đưa cậu vào một deep sleep (giấc ngủ sâu) để những cơn nightmares kỳ lạ đó dừng lại. “Nhưng bây giờ tôi lại có một ác mộng khác. Tôi đã không thể có một good night’s sleep (giấc ngủ ngon) từ lâu lắm rồi!”
Ông bác sĩ considered vấn đề của Hải. Cậu có hơi béo. Ông bác sĩ explained cho patient của ông, “Thế này, đôi khi effect sẽ bị kém đi nếu cậu bị dehydrated hoặc ăn quá nhiều chất béo. Cậu có uống đủ nước và ăn uống lành mạnh không đấy?”
Hải admitted là mình đã took the pills (uống thuốc) cùng với bia thay vì nước. Cậu hứa sẽ thay đổi.
Tuần sau đó, Hải trở lại bệnh viện. “Bác sĩ ơi! Tôi nói để ông biết này, being on medication (đang trong liệu trình uống thuốc) chả có tác dụng gì cả. Tôi vẫn không có chút thời gian nghĩ ngơi đúng nghĩa nào.”
“Lần này cơn ác mộng là gì thế?”
“Mẹ vợ tôi là một con cá sấu, tôi cố ăn cắp cái TV của bà ấy, rồi bà ấy cố bắng tôi với một khẩu súng. Thực đáng sợ.”
“Chà,” ông bác sĩ nói, “Chỗ thuốc đó đã có tác dụng slowly, nên là hãy hoàn thành medicine course (liệu trình uống thuốc) tôi đặt ra cho cậu, và xem tuần tới như nào.”
Tuần tiếp theo, Hải quay lại. Trông cậu exhaustedlost cân nữa.
“Bác sĩ ơi. Làm ơn đi. Tôi mệt quá rồi.”
Ông bác sĩ nói, “Để tôi gọi một cuộc điện thoại.” Rồi ông rời khỏi căn phòng .
Khi quay về, ông mang một packet capsules mới. “Được rồi, Hải, Tôi đã gọi điện thoại với pharmacy. Đây là loại thuốc tốt hơn,” ông bác sĩ nói. “Nhưng đầu tiên cậu nhớ khoá cửa phòng mình lại đấy.”
“Vì sao thế?”
“Cậu không để ý chân mình à? Chúng rất fit Hải à. Trước đây cậu khá là béo đấy.”
Hải nhìn xuống chân mình. “Thú vị đấy. Rồi sao?”
“Tôi đã gọi cho mẹ vợ cậu. Bà nói cậu tới chỗ bà hằng đêm và cố gắng cướp cái TV của bà ấy, và bà luôn phải đuổi theo cậu với một khẩu súng.”
Sleep Well

Unit 26. Relaxation & Resting

Mad54

 Linh is quite honest when she stay things. If you ask, “how are you, Linh?” She tell you exactly how she feels. So, when her boss asked her that question one morning, she said, “oh, i feel like I’m going to burn my desk if you give me all this hard work.”  She was a detective, and that was a stressful job.
“Oh dear”, her boss said, “you need to take a break! Forget about work. Go home, do something fun to release stress and then catch up on your sleep. Come back to work tomorrow.
So by noon, Linh was at home. She turned on her tv and lay on her couch to play a video game, Call Of Duty. It was a military game.
A player called MAD54 came online and said, “Oooh, A GIRL! I’m gonna defeat you!”
Linh started playing against MAD54, and soon she realised that she wasn’t getting the stress out of her system. She wasn’t calm. She was obsessed about beating this MAD54 person.
Suddenly, she stopped. “Darn it. I’ve wasted my relaxation time.” She breathed slowly. She decided not to do anything active and went to bed early to get some proper sleep.
Nope! She couldn’t stay calm thinking about MAD54. What a jerk! She would have a sleepless night if she didn’t beat him. So she started the game again and saw MAD54 online. “Hey, silly girl! Ready to be beaten again? Hahahaha…”
She played all through the night, and STILL she couldn’t beat him. “Hah! Go do girl stuff!” He said.
Well, Linh was a detective, so she found out where he lived. She then drove to MAD54’s house at 5AM. She banged on the door.
Her boss came out with a video game controller in his hand “Linh! You look terrible! Did you get some sleep?”
Linh là người quite thẳng thắng khi nói chuyện. Nếu như bạn hỏi, “Khoẻ không Linh?” cô ấy sẽ cho bạn biết chính xác cảm giác của mình. Thế nên khi xếp cô hỏi câu đó vào một buổi sáng cô trả lời, “À thì, tôi thấy muốn đốt cả cái bàn làm việc nếu sếp cứ đưa tôi cái đống việc hard này.” Cô là một detective, và đó là một công việc stressful.
“Ồ cô gái,” sếp cô xoa dịu, “Cô cần phải take a break (nghĩ giải lao) đấy! Forget công việc đi. Về nhà, làm việc gì đó hay ho để release stress và rồi catch up on your sleep (ngủ bù). Quay lại đây vào ngày mai nhé.”
Khoảng tầm noon, Linh đã có mặt ở nhà. Cô bậc TV lên và lay ra đi-văng để chơi điện tử, Call of Duty. Nó là một game quân sự.
Một người chơi tên MAD54 xuất hiện và nói, “Ồ MỘT ĐỨA CON GÁI! Tôi sẽ defeat cô!”
Linh bắt đầu đấu với MAD54, và nhanh chóng nhận ra mình không hề loại bỏ căng thẳng ra khỏi cơ thể. Cô không calm được. Cô bị obsessed về việc đánh bại cái gã MAD54 này.
Rồi đột nhiên, cô ngừng lại. “Chết tiệt Mình vừa wasted thời gian relaxation.”
Cô hít thở thật chậm rãi, Cô quyết định sẽ không làm gì active nữa và đi ngủ sớm để có một proper sleep (giấc ngủ đủ).
Không! Cô không thể giữ bình tỉnh khi nghĩ tới MAD54. Tên khốn! Cô sẽ have a sleepless night (thức trắng đêm) nếu không đánh bại hắn ta.
Thế là cô bắt đầu chơi tiếp và MAD54 lại xuất hiện. “Này, bánh bèo ngốc nghếch! Sẵn sàng ăn đòn tiếp chưa cưng? HAHAAAAAAAAA!”
Cô chơi through đêm, và vẫn không thể đánh bại hắn. “HA! Đi làm mấy việc của đàn bà đi!” hắn đắc thắng.
Ừ thì, Linh là một thám tử, nên cô tìm ra chỗ gã kia sống. Cô lái xe tới nhà của MAD54 lúc 5h sáng và đập cửa ầm ầm.
Sếp của cô mở cửa với một cái tay cầm chơi game trên tay. “Linh đấy à! Trông cô tệ quá! Đã get some sleep (ngủ một chút) chưa vậy?”
Mad54

Unit 27. Sport & Exercising 1

Record breakers

Bich and Hoa were very strong girls. They were both professional athletes. They played badminton and worked out at the gym everyday. They competed in serious matchs and hardly lost any of them.
Even the captain of their team was famous for setting some records in sport.
Bich and Hoa also liked to go to the bar after practice and drink, and when they drank, they argued a lot. This time, it was about who would win the gold medal at the next contest.
“I’m going to win the game and take home the cup this time” said Hoa.
“No, I will. Because I’m going break the record that our captain set!”
The more they drank, the louder they argued.
Finally, one of their supporters said, “Excuse me. I’m try to have a quiet drink but you’re very loud”
“So what?”
“Well”, he said, “why don’t you go outside and have a little tournament to see who wins”.
“Fine!” And both competitors went outside to the street.
They had drunk so much that they could hardly walk. They took out their badminton racquets and agreed that the loser would buy more beers. Then they started to play against each other. Thereafter, no one bought more beers.
Instead, they woke up many hours later in a strange place. Both of them had a bad headache. They were sitting on the floor, and there was a policeman outside their room.
“Excuse me. Are we in jail?” Bich asked the man.
“Yes”
“But why?”
The police said, “you don’t remember? You broke a record!”
“Really?” Asked Hoa. “Which record?”
“The highest number of windows broken in one street.”
Bích và Hoa là những cô gái rất strong. Họ đều là các athletes chuyên nghiệp. Họ chơi badmintonworked out at the gym (tập luyện ở phòng gym) hàng ngày. Họ competed những matches căng thẳng và hầu như chẳng thua trận nào.
Thậm chí cả captain của team họ cũng nổi tiếng việc setting some records (lập kỹ lục) trong môn cầu lông.
Bích và Hoa cũng thích thú lui tới quán bar sau giờ practice và uống, và khi đả say, họ thường argued rất nhiều. Lần này, nó là về việc ai sẽ win the gold medal (giành huy chương vàng) tại contest tới.
“Lần này mình sẽ win the game (thắng một trận đấu) và take home the cup (rinh cup về),” Hoa nói.
“Không, mình chứ. Vì mình sẽ là người phá vở kỷ lục của đội trường!”
Càng uống nhiều họ càng lớn tiếng tranh cãi.
Cuối cùng, một trong số các supporters của họ nói, “Xin lỗi. Tôi chỉ muốn được uống trong yên tĩnh thôi mà các cô ồn ào quá.”
“THÌ LÀM SAO?”
“Chà,” anh ta nói, “sao các cô không ra ngoài và tổ chức một tournament nho nhỏ để xem ai là người wins nhỉ?”
“Được thôi!” Và cả hai competitors đi ra ngoài con phố. Họ đả uống nhiều tới mức bước đi thôi cũng khó khăn rồi. Họ rút racquets cầu lông của mình ra và đồng ý rằng loser sẽ phải mua thêm bia. Và rồi họ bắt đầu thi đấu với nhau.
Sau đó, không ai mua thêm bia cả.
Thay vào đó, họ tĩnh dậy nhiều giờ sau đó ở một nơi lạ lẫm. Cả hai đều thấy đau đầu kinh khủng. Họ đang ngồi trên sàn, và có một viên cảnh sát ở phía ngoài căn phòng.
“Xin lổi. Có phải bọn tôi đang ở trong tù không?” Bích hỏi anh ta.
“Đúng vậy”
“Nhưng tại sao lại thế?”
Anh cảnh sát nói, “Các cô không nhớ gì hết à? Các cô đả broke a record (phá một kỷ lục) đấy!”
“Thật vậy á?” Hoa hỏi. “Kỹ lục gì thế?”
“Số cửa sổ bị đánh vở nhiều nhất trên một con phố.”
Record breakers

Unit 28. Sports & Exercising 2

The Right Size

 John liked fashion, but his belly was quite big. Clothing stores would not let him enter. “We are sorry! You are going to tear our clothes!”
So john found a trainer and said, “please! Help me lose weight. I’m too lazy to do exercise. One day, i might die from a heart attack”.
“Well”, said the trainer. “You need to burn of all the fat first. Start by going out for a walk every morning, and then, in a couple of weeks, we’ll add jogging to your timetable.
John did as he was told. After that, the trainer said he should build his muscle. So he started running and swimming. As he got more confident, he went hiking in the hills. That was hard work!
“Can I go kayaking?” He asked the trainer.
“Of course!”
So, he bought a kayat and paddled every morning into the river.
When he saw how fit he was, he decided to lift heavy things. John was going crazy! He started to do extreme sports that are a little bit dangerous. At the end of the day, he watched Chinese movies to learn kung fu.
The trainer said, “so you want to gain some muscle like me?”
“Yes”
His daily effort slowly formed his confidence. He would spend an age in front of the mirror. He was huge!
“Yeah! John, you are a beast. Now you can be brave and wear whatever you want”. So he went to buy some nice clothes.
The next day he told the trainer, “Can you help me lose my muscles?”
“What?? Why?”
“The store said they’re too big. I’m going to tear their clothes”
John yêu thích thời trang, nhưng bụng anh lại khá to. Mấy cửa hàng quần áo thường không muốn để anh vào. “Chúng tôi rất tiếc! Anh sẽ tear toạc đồ của chúng tôi ra mất!”
Thế là John tìm tới một trainer và nói, “LÀM ƠN! Giúp tôi lose weight (giảm cân) với. Tôi quá lười để rèn luyện sức khỏe. Rồi một ngày nào đó tôi sẽ chết vì bị heart attack (cơn đau tim) mất.”
“Chà,” tay huấn luyện viên nói. “Anh cần phải burn toàn bộ đống mỡ trước đã. Bắt đầu bằng việc going out for a walk (ra ngoài đi dạo) mỗi buổi sáng, và rồi, trong vài tuần tiếp theo, chúng ta sẽ thêm jogging vào timetable của anh.”
John làm theo lời gã. Sau đó, tay huấn luyện viên nói anh nên bắt đầu build his muscle (tăng cơ). Thế là anh bắt đầu tập runningswimming. Khi đả tự tin hơn, anh hiking trên những ngọn đồi. Khá là vất vã!
“Tôi có thể go kayaking (đi chèo thuyền kayak)?” anh hỏi huấn luyện viên.
“Được chứ!”
Thế là, anh mua một chiếc thuyền kayakpaddled trên sông mỗi sáng. Khi thấy mình đã trở nên cân đối tới mức nào, anh quyết định lift các vật nặng. John đang phát điên! Anh thậm chí còn bắt đầu do những môn extreme sport (chơi những môn thể thao mạo hiểm) có phần nguy hiểm. Cuối ngày, anh xem những bộ phim Trung Quốc để học kung fu.
Tay huấn luyện viên nói, “Vậy là, anh muốn gain cơ bắp giống tôi?”
“ĐÚNG THẾ!!”
Nổ lực mỗi ngày dần formed sự tự tin của John. Anh dành cả age đứng trước gương. Anh thật to lớn! “Chà, John, anh là một beast đấy. Giờ anh có thể brave và mặt bất cứ thứ gì anh muốn rồi.” Thế là John đi mua vài bộ quần áo đẹp.
Ngày hôm sau, anh nói với huấn luyện viên, “Anh giúp tôi bỏ đống cơ bắp này đi được không?”
“Cái gì?? Sao lại thế?”
‘Người ở mấy cửa hàng nói chúng to quá. Tôi sẽ làm rách đồ của họ mất.”
The Right Size

Unit 29. Traffic & Transport 1

Please Drive Carefully

It was 5 pm, and all the animals were going home. Bod the Buffalo left his job of eating grass early to avoid rush hour. He hated getting stuck in traffic. If that happened, all you could do was eat more grass. Bob hated that as well. And even worse, all the flies would bite you, and that made Bob the Buffalo very annoyed.
That day, the traffic was quite light and everyone was moving quite fast . Suddenly, it slowed down and got even heavier. Then it finally stopped. Bob the Buffalo started eating grass, and the flies came. “Why can’t we move” he shouted.
“Just relax, Bob” another buffalo said. “It will move soon”
But Bob wasn’t patient.
“This is crazy!” He shouted.
The other buffalo refused to give way to him and let him pass.
“Hey, man!! The field is wide and empty! Look at it! We’re surrounded by empty space! How can there be a traffic jam?”
The other buffalo then moved just a little bit, and Bob the Buffalo moved quickly forward. His leg went inside a hole in the middle of the road because he didn’t see it. “Darn it!” BOB the buffalo tried to speed up and push the other buffalo around.
“Hey, watch out!” Some buffalo said!
Calm down, you crazy buffalo! If you don’t drive carefully, you’re going to cause a problem” other said.
Eventually, Bod got through the traffic safely. Then, Bob saw the problem. A really fat buffalo sitting in the middle of the grass, trying very hard to turn over. He was trying to see the bottom of his foot.
“What happened?” Bob asked another buffalo.
“Oh. Traffic accident. He stepped on a mouse”
Lúc đó là 5 giờ chiều, và mọi loài vật đều đang trở về nhà. Anh Trâu Bob kết thúc công việc ăn cỏ để tránh rush hour (giờ cao điểm). Anh ghét bị setting stuck in traffic (bị kẹt trong giao thông). Nếu điều đó xảy ra, tất cả những gì bạn có thể làm ăn nhiều cỏ hơn. Bob cũng ghét điều đó luôn. Và thậm chí còn worse, toàn bộ lũ ruồi sẽ đốt bạn, và điều đó làm Bob rất annoyed.
Ngày hôm đó, traffic vốn khá light và mọi người đều đang di chuyển khá fast. Rồi bổng dưng nó slowed down (đi chậm lại) và trở nên còn heavier. Cuối cùng nó ngừng hẳn lại. Bob bắt đầu ăn cỏ, và lũ ruồi lại tới. “Sao mãi mà chúng ta không thể đi được thế?” anh quát.
“Bình tĩnh nào Bob,” một gả trâu khác nói. Sẽ di chuyển được sớm thôi.”
Nhưng Bob không phải người patient.
“Điều này thật điên rồ!” Anh hét lên.
Gã trâu lúc trước không chịu give way to him (nhường đường cho ai) và để cho a pass.
“Này anh a bạn!! Cánh đồng thì rộng và trống trơn! Nhìn đi! Xung quanh chúng ta toàn là khoảng trống! Sao lại có thể traffic jam (tắc đường) được?”
Rồi gã kia nhích qua một chút, và Bob di chuyển thật quickly về phía trước. Chân anh bị lọt vào một cái hole ở giữa đường vì anh không nhìn thấy nó.
“CHẾT TIỆT” Bob cố gắng speed up (tăng tốc) và pushed những con trâu khác xung quanh.
“Này, cẩn thận nào, thằng trâu crazy này! Nếu mày không lái cho carefully, mày sẽ gây rắc rối đấy,” một con khác nói.
Cuối cùng thì, Bob cũng len lỏi qua được đám đông safely. Và rồi, Bob thấy được vấn đề. Một con trâu cực kỳ to béo đang ngồi giữa bãi cỏ, cố gắng hết sức để lật mình lại. Nó đang cố để nhìn được lòng bàn chân của mình.
“Chuyện gì vừa xảy ra thế? Bob hỏi một con trâu khác.
“À. Accident giao thông ấy mà. Hắn dẫm phải một con chuột.”
Please Drive Carefully

Unit 30. Traffic & Transport 2

The Surprise Challenge

Danh entered a driving contest, where the winner would get a new vehicle: maybe a motorbike or something else!
Even when he was still a little boy riding his tricycle, Danh already delivered flowers, food, and gifts regularly. Then, when he grew up and had his own bike, he became a Grab guy. His job was to pick someone up on his grab bike and drop them off anywhere they wanted. Slowly, he became an expert.
Danh knew every street and alley like the back of his hand. He could navigate any part of the city, and could always find a shortcut. He never got lost. If his bike suddenly stalled, he knew exactly where the nearest mechanic was.
He could give a lift to five people at the same time, and he never hit anything because his bike had very good brakes. In short, Danh was an excellent driver!
On the day of the contest, the contestants faced lost of challenges. Up to that point, Danh was winning.
“And now: the surprise challenge!” Said the announcer. This parking lot is full of vehicles of all types. Each of you will go and choose any vehicles you likes and bring them back here.”
The contestant thought they were choosing the vehicle they wanted to win. When the other two contestants returned, one had chosen five expensive racing bicycles, and the other one a nice sailing boat. “Now” said the announcer, “the surprise challenge is to put the vehicle you chose on your scooter and carry it.”
They guy with the five bicycles struggled, but for the guy with the boat, trying to put the boat on his scooter was a nightmare. Suddenly, they both started laughing.
“What’s so funny?” Asked the announcer.
“It’s Danh”, they said. “We saw him in the parking lot, choosing a truck”.
Danh tham dự một cuộc thi lái xe, người thắng cuộc sẽ được nhận một chiếc xe mới: có thể là một cái motorbike hoặc một loại xe khác!
Kể từ khi vẫn còn là một cậu bé lái chiếc tricycle, Danh dả regularly chuyển phát hoa, đồ ăn, và quà tặng. Rồi, khi lớn lên và có xe máy riêng, cậu trở thành một tài xế Grap. Việc của cậu là pick someone up (đón ai đó) lên xe Grap của mình và drop them off (thả ai xuống) xuống bất kì chỗ nào họ muốn. Dần dần, cậu trở thành một chuyên gia.
Danh biết rỏ mọi đường phố, ngỏ ngách like the back of his hand( (biết ) rỏ như lòng bàn tay). Cậu có thể navigate bất cứ phần nào của thành phố, và có thể tìm được một shortcut. Cậu không bao giờ bị lost. Nếu xe cậu suddenly bị chết máy, cậu biết chính xác mechanic gần nhất ở đâu.
Cậu có thể give a lift to ( (some one)/cho (ai) đi nhờ) năm người cùng lúc, và chưa bao giờ hit phải bất cứ thứ gì bởi vì xe cậu có bộ brakes rất tốt. Ngắn gọn thì, Danh là một tài xế xuất sắc!
Vào ngày diễn ra cuộc thi, các thí sinh phải đối mặt với rất nhiều thử thách. Up to that point (tính tới thời điểm đó), Danh vẫn đang là người có lợi thế.
“Và bây giờ là: thử thách bất ngờ!” phát thanh viên thông báo. “Khu đổ xe này đả full với đủ loại xe. Mỗi người các bạn sẽ đi và chọn bất cứ phương tiện nào bạn thích và mang chúng trở lại đây.”
Các thí sinh tưởng rằng mình đang chọn chiếc xe mình sẽ nhận được khi chiến thắng.
Khi hai thí sinh còn lại quay lại, một người đả chọn năm chiếc bicycles đua đắt tiền, và người còn lại chọn một chiếc boat buồm ra trò. “Bây giờ,” phát thanh viên tiếp tục, “thử thách bất ngờ là đặt phương tiện bạn đả chọn lên chiếc xe tay ga của bạn và chở nó.”
Cái gả có năm chiếc xe đạp khá khổ sở, nhưng với gã có cái thuyền, cố đặt nó lên cái xe tay ga thực sự là một nightmare. Đột nhiên, cả 2 cùng bật cười.
“Có gì buồn cười thế?” phát thanh viên hỏi.
“À thằng Danh ấy mà,” họ trả lời. “Nãy bọn tôi thấy nó trong parking lot (bãi đổ xe), đang chọn 1 cái truck.”
The Surprise Challenge

Unit 31. Music & Art 1

The Musician

Nhi was a famous musician in the city because she had a unique style.
She would play the flute with her finger and her mouth while using her feet to play the ukulele, which is like a very small guitar. Two instruments at the same time. Her musical performances were very popular in cafes, but not so much in bars. This was because of her musical genre. It was a little like folk music; not the best music for dancing or drinking.
I heard other people say that hearing her perform was a relaxing experience. I heard it could touch the depth of one’s soul, so i decided to see where she was playing next and went there.
It was a cafe in the Tay Ho area. The walls were green and old and the place itself was quite hidden.
I ordered some coffee and sat down at the back, curious about what live music at a cafe would be like. Would it be a catchy song? Something Upbeat or something calm and pleasant?  I wondered if she would sing, and if she’d  have a beautiful voice.
Nhi arrived: a very beautiful young woman with round, red lips
She took her shoes off and started to play both of her instruments with her feet and hands. Everyone stopped what they were doing and jumped in sock. The sound was very loud and terrible. It reminded me of the cries of a dying cat when a snake was trying to kill it.
The manager quickly reduced the volume of the speakers until we couldn’t hear anything. We watched her play quietly in almost complete silence. She didn’t seem to mind.
Nhi was beautiful, indeed, and the way her fingers moved… yes, without the music, it was very relaxing.
Nhi là 1 musician nổi tiếng trong thành phố bởi cô có 1 style chơi nhạc độc nhất vô nhị
Cô có thể thổi flute với ngón tay và miệng trong khi dùng chân để chơi ukulele, một loại đàn giống guitar nhưng bé hơn hẳn. Hai loại nhạc cụ at the same time (cùng 1 lúc). Những màn musical performances (buổi biểu diễn ca nhạc) của cô rất được ưa chuộng ở những quán cà phê, nhưng lại không được thế trong những quán bar. Đó là bởi vì musical genre (thể loại nhạc) mà cô chơi. Nó hơi giống folk music (dân ca); không phải loại nhạc phù hợp nhất cho việc nhảy nhót hay nhậu nhẹt.
Tôi thấy người ta bảo rằng nghe cô perform là một trải nghiệm rất thư giãn. Rằng nó có khả năng chạm vào phần sâu thẳm trong tâm hồn mọi người, thế là tôi quyết định tìm tới nơi tiếp theo cô biểu diễn.
Đó là một quán cà phê ở khu Tây Hồ. Những bức tường cũ màu xanh lá cây và bản thân quán cũng khá khuất nẻo.
Tôi gọi cà phê và ngồi xuống phía sau quán, tò mò không biết live music (nhạc sống) ở một quán cà phê sẽ như thế nào. Nó có phải một bài hát catchy không? Một thứ gì đó upbeat? Hay một thứ nhạc bình lặng và dễ chịu? Tôi thắc mắc không biết cô có hát không, và liệu cô have a beautiful voice (có một giọng ca tuyệt vời).
Nhi tới rồi: một cô gái trẻ cực kỳ xinh đẹp với đôi môi tròn đầy, đỏ thắm.
Cô cởi giầy và bắt đầu play cả hai loại instruments bằng chân và tay của mình. Tất cả mọi người ngừng hết những việc đang làm và cực kỳ sốc. Âm thanh cực kỳ loud và dở tệ. Nó reminded tôi về tiếng cries của một con mèo sắp bị rắn giết chết.
Người quản lý nhanh chóng giảm volume của mic cho tới khi chúng tôi không thể nghe thấy gì nữa. Chúng tôi xem cô ấy biểu diễn quietly trong sự im lặng gần như tuyệt đối.
Cô không có vẽ gì là phiền lòng cả.
Nhi rất xinh đẹp, quả thật là vậy, và cách mà các ngón tay của cô di chuyển…
Đúng vậy, bỏ qua tiếng nhạc thì nó thật sự rất thư giãn.
The Musician

Unit 32. Music & Art 2

Real Art

“This is beautiful room, Nhung” I loved what my friend had done to her living room. It felt cosy and clean, and the old walls had been repainted.
“Thank you”, said Nhung. “I even hired a well-known artist from abroad to make something nice.”
“Oh..?” I didn’t have a high artistic sense  but i could enjoy an art exhibition if someone clever created it, and if i understood it. I liked photography and drawing, but i didn’t understand fine art. In fact, I frequently thought it was stupid. Or the people who like it were stupid.
“Oh yes”, said Nhung. “The painter was very good and made an artistic piece of art for my wall.”
“Where is it?”
Nhung pointed at her wall, which was completely white. “There.”
I was confused. “I don’t understand,” I said to Nhung.
“Look” she said. “The painting; all of it from this side of the wall to that side. Isn’t it amazing?”
“Personally, Nhung, I can’t admire a work of art that I don’t understand.”
“Don’t try to understand it!” She shouted at me.  “Immerse yourself in the technique. He painted the whole wall with one finger. He put his finger in the while paint and then touched the wall. Then, he touched the white paint again and then touched the wall. Slowly, until he finished. It took five months. He’s so inventive!”
I couldn’t see the value of it. It was just a white wall. “Well, it’s a nice white wall. I hope it wasn’t very expensive”
“Only 500 million”
“What?”
“You just need to strengthen your artistic sense” Nhung told me.
I was starting to get angry, so I decided to change the subject. “Fine. Let’s go have a coffee at Cong”
“Oh.., i don’t like Cong,” Nhung said. “Their coffee too expensive”
“Đây là một căn phòng đẹp đấy Nhung ạ.” Tôi thực sự thích những gì bạn tôi đã làm với phòng khách của cô ấy. Nó mang lại cho tôi cảm giác ấm cúng và sạch sẽ, và những bức tường cũ đả được sơn lại.
“Cảm ơn cậu,” Nhung nói. “Mình còn thuê hẳn một artist rất well-known từ nước ngoài để làm vài thứ hay ho nữa.”
“Ồ?” Tôi không have a high artistic sense (có khiếu nghệ thuật cao), nhưng tôi có thể thưởng thức một art exhibition (triển lãm nghệ thuật) nếu nó do một người thông minh created, và nếu tôi hiểu được nó. Tôi thích photographydrawing, nhưng tôi không hiểu fine art (mỹ thuật) mấy. Thực ra, tôi frequently cho rằng nó thật ngu ngốc. Hoặc những người thích nó đều ngu ngốc.
“Ồ đúng thế, Nhung nói. “Người painter rất giỏi và đả tạo ra cả một tác phẩm đầy tính artistic trên tường cho mình.”
“Nó ở đâu vậy?”
Nhung chỉ vào bức tường, toàn một màu trắng. “Đó.”
Tôi bối rối. “Mình không hiểu,” Tôi bảo Nhung.
“Nhìn xem,” cô nói. “Painting; toàn bộ từ đầu này tới đầu kia của bức tường. Quá ấn tượng đúng không?”
Personally, Nhung này, mình không thể admire a work of art (thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật) mà mình không hiểu.”
“Đừng cố để hiểu nó!” cô shouted vào mặt tôi. “Hãy thưởng thức phần technique ấy. Anh ấy vẽ cả bức tường chỉ bằng một ngón tay. Anh ấy nhúng ngón tay vào sơn trắng và chạm vào bức tường. Rồi sau đó, anh lại chạm vào sơn trắng và lại chạm vào bức tường. Một cách chậm rãi, cho tới khi anh ấy hoàn thành nó. Mất năm tháng ròng rã. Anh ấy quá là inventive!”
Tôi không thể nào see the value of (thấy được giá trị của cái gì đó) nó. Nó chỉ là một bức tường trắng. “Ừ thì, bức tường trắng đẹp đấy. Mong là nó không bị quá đắt.”
“Chỉ mất 500 triệu thôi.”
“Hả?”
“Chỉ là cậu cần phải strengthen your aesthetic sense (nâng cao khiếu nghệ thuật của bản thân),” Nhung nói với tôi.
Tôi bắt đầu thấy bực mình, nên quyết định đổi chủ đề. “Được rồi. Ra Công làm tí cà phê nào.”
“À, mình không thích Công,” Nhung đáp. “Cà phê chỗ đó đắt quá.”
Real Art

Unit 33. Celebrities & Fame

Clumsy

People think I tried to kill myself. Yes, many celebrities kill themselves, but that’s not what i did.
There was a big private party on the roof of the hotel. TV personalities, people in the show business, and public figures were there. So, when I fell from the roof and died, the paparazzi were waiting everywhere. It was all over the news.
Now, I donated a lot of money to the elephant charity just before the party. That was lucky. So, when I died, I went to heaven.
I stood on a big cloud. In front of me was a very tall golden gate. There were tall buildings after it, they were as shiny as the sun. Heaven looked fancier than the party.
I saw an old man inside a small office next to the gate. “Welcome to Heaven,” he said. “This is the immigration office. Let me see your file here”. He looked through several papers, and I feared that he might refuse to let me enter heaven.
The man then said, “listen. I was interested in your career for a long time because I’m a big fan of your movies. You’re very talented actor”
“But?”
“But your personal life is terrible. You did drugs, you drank too much,…”
At that point, I was afraid. I didn’t want to go to hell, so I tried to impress him. “But did you know I’m also a dancer? I can entertain your guest forever! Look!”
I started to show him my dancing, but the truth is, I’m clumsy.
I slipped, and fell. I fell through the cloud and very cloud below it. I fell until I hit my own body and woke up.
“He’s alive!” Someone screamed.
That’s also how I had fallen off the hotel roof, you see. I was trying to show a girl that I could dance.
Mọi người cho rằng tôi cố tự tử. Đúng vậy, nhiều celebrities tự sát, nhưng việc tôi làm không phải như thế.
Có một bửa tiệc private hoành tráng trên tầng thượng của một khách sạn. TV personalities, những người trong the show business (ngành giải trí) , và các paparazzi đả chờ sẵn ở khắp mọi nơi. Vụ này was all over the news (xuất hiện trên khắp các bản tin).
Chuyện là, tôi quyên góp rất nhiều tiền cho quỹ charity dành cho loài voi ngay trước bửa tiệc. Thật là lucky. Vậy nên sau khi chết, tôi được lên thiên đường. Tôi đứng trên một đám mây lớn. Trước mặt tôi là một đám mây lớn. Trước mặt tôi là một golden gate rất cao. Có những tòa nhà cũng cao phía sau nó, chúng đều shiny như mặt trời. Thiên đường trông còn fancier sa với bửa tiệc.
Tôi thấy một ông già phía trong văn phòng nhỏ kế bên cái cổng.
“Chào mừng tới Thiên đường,” Ông nói. “Đây là văn phòng immigration. Để tôi kiểm tra hồ sơ của cậu nào,” Ông nhìn qua mấy thứ giấy tờ, và tôi sợ rằng ông sẽ refuse thiên đường.
Ông già sau đó nói, “Nghe này. Ta thấy interested với công việc của cậu lâu rồi, vì ta là a big fan of mấy bộ phim cậu đóng. Cậu là một diễn viên tài năng đấy.”
“Nhưng mà personal life (đời tư) của cậu lại quá tệ. Cậu dùng ma túy, uống rượu quá nhiều…”
Giờ thì tôi lo lắng rồi đây. Tôi không muốn xuống địa ngục, nên tôi cố gây ấn tượng tốt với ông ta. “Thế ông có biết tôi cũng là một vũ công không? Tôi có thể mua vui cho những vị khách của ông vĩnh viễn! Xem này!”
Tôi bắt đầu cho ông ta xem các bước nhảy của mình, nhưng sự thật là, tôi rất vụng về.
Tôi trượt chân và ngã. Tôi rơi xuyên qua đám mây và toàn bộ những đám mây dưới nó. Tôi rơi xuyên qua đám mây và toàn bộ những đám mây dưới nó. Tôi rơi cho đến khi hồn phách trở về với thân thể và tĩnh dậy.
“ANH ẤY CÒN SỐNG!” ai đó screamed.
Đó cũng là cách tôi đả ngã khỏi nóc khách sạn, bạn thấy đấy. Tôi chỉ đang cố gắng cho một cô gái thấy rằng mình có thể nhảy.
Clumsy

Unit 34. Social Media & Technology 1

Mean

My cat was mean, and I’ll prove it.
I have had Facebook and twitter for a long time. But I’m not socially popular on the internet. Therefore, not many users visited my social media profiles. Then i got a cat: black cat with yellow eyes. And like all cats, she was little mean.
So i create a Page on Facebook, called “My Mean Cat”. I started posting pictures of mean things she did, and it started getting attention. First only other Facebook users, and then bloggers also wrote about my page.
My page attracted a lot of new followers each time i went on Facebook and put up a post. Soon, i went viral. I thought, “maybe i could make some money with an advertisement, get some reliable income, and one day it will be profitable enough that i can quit my real job.”
It worked. I even opened a website with an online shop and began to sell my mean cat underwear. The trend made me real rich.
One day, the cat was watching me as i posted some pictures. She then walked out of the house and left. She was gone for a week. I couldn’t post anything, and so my fans started to complain.
Then, five men came to my house, carrying my cat  “who are you?” I asked them.
“We are lawyers. Your cat is suing you for calling her mean, posting her pictures without permission, and taking her money”
“Ridiculous” i said.
“Well” said the lawyers, “the ‘business’ is in the cat’s name. The online shop has her face.”
I lost and had to sign some papers. The cat got all the money and left. On the way out, she peed in my shoes.
That was unnecessary and totally her style mean.
Con mèo của tôi rất xấu tính, và tôi sẽ chứng minh điều đó.
Tôi có tài khoản FacebookTwitter lâu rồi, nhưng tôi không phải kiểu giao thiệp rộng socially on the Internet (trên mạng). Vì vậy, chả có mấy user vào ngó nghiêng những thông tin social media (mạng xã hội) của tôi. Rồi tôi có một con mèo: một con mèo đen với đôi mắt màu vàng. Và như tất cả lũ mèo, nàng ta cũng hơi xấu tính.
Thế là tôi lập một page trên Facebook, có tên gọi “Cô Mèo Xấu Tính Của Tôi.”
Tôi bắt đầu đăng tải những tấm ảnh về những điều xấu tính nàng ta đả làm, và nó bắt đầu nhận được attention. Đầu tiên, chỉ là người những dùng Facebook khác, và rồi các bloggers cũng bắt đầu viết về trang của tôi.
Trang của tôi attracted được rất nhiều người theo dõi mỗi lần tôi went on Facebook (lên Facebook) và put up a post (đăng một bài). Rất nhanh, tôi trở nên viral. Tôi nghĩ, “Có khi mình có thể kiếm ít tiền với một mẫu advertisement, có được nguồn thu nhập reliable, và một ngày nào đó nó sẽ đủ profitable để mình có thể nghĩ cái công việc hiện tại.”
Nó hiệu quả. Tôi thậm chí còn mở một website với một online shop (cửa hàng trực tuyến) và bắt đầu bán đồ lót Cô Mèo Xấu Của Tôi. Cái trend này làm tôi giàu ra trò.
Một hôm, cô mèo ngồi nhìn tôi posted mấy bức ảnh. Rồi nàng tò mò ra khỏi nhà và bỏ đi. Nàng bỏ đi suốt một tuần. Tôi chẳng thể đăng gì, và những người hâm mộ tôi bắt đầu complain.
Rồi, năm người đàn ông xuất hiện ở nhà tôi, mang theo cô mèo. “Mấy người là ai?” Tôi hỏi họ.
“Chúng tôi là luật sư. Con mèo của anh đang kiện anh vì tội gọi nó là đồ xấu tính, đăng hình ảnh của nó without permission (khi chưa được cho phép), và lấy tiền của nó.”
“Nực cười thật!” Tôi bực tức.
“Thì,” đám luật sư nói, “cái vụ ‘kinh doanh’ này về danh nghĩa thì thuộc về con mèo. Cửa hàng trực tuyến có mặt nó.”
Tôi thua kiện và phải ký vào một đống giấy tờ. Con mèo lấy toàn bộ số tiền và bỏ đi. Trên đường ra khỏi nhà, nó còn tè vào giày của tôi.
Điều đó thật unnecessary và đúng chuẩn cung cách của nó. Đồ xấu tính.
Mean

Unit 35. Social Media & Technology 2

Outdated

The caveman was sitting with his wife in his cave. There was a storm outside. Suddenly, lighting hit the caveman and POOF!! He disappeared.
He appeared in the middle of the street in an advanced western city. Cars and people were everywhere. Big screens were advertising technological advances, like TVs and cars. He stood there and kept his eyes glued to the screen for long time. Then he ran.
There was too much information. He was a caveman, but he was smart. He remembered the lighting and realized he was extremely lucky to be alive. But he was in the future, so he needed to update himself and learn about this place.
Everything he was a source of information. He watched computer screens in shops, and he slowly learn how technology had changed the way people communicate. He started to understand things after many years. Supported by curious strangers, the caveman completely changed and became a nerd . Well,  not totally. He still didn’t shave, and he didn’t wear clothes.
Yet he knew all about IT and even kept up with the current trends.
He started to like this place.
Then, on one stormy day, lighting hit him. He almost died.
When he woke up, a dinosaur was smelling his face.  He was back! The caveman ran to his cave and went to hug his wife. She slapped him. “GRRAKKK!!” she shouted.
She was asking him where he has been, but he had forgotten how to speak the caveman language. “I just return from New York in the future , in 2019!” He said.
“GROKK??” said his wife.
“New York!” He repeated.
His wife scratched her head. She was uglier than he remembered. He took out his smartphone and opened Google Maps. It said ‘No Wi-Fi connection’. “Darn. This place is so outdated”
Anh chàng người tiền sử ngồi cùng vợ trong cái hang của mình. Bên ngoài đang có một cơn bão. Đột nhiên, lighting đánh trúng anh và BỤP! Anh chàng biến mất.
Anh xuất hiện giữa con phố trong một thành phố advanced western. Xe cộ và người ở khắp mọi nơi. Các screens lớn thì đang quảng cáo những technological advances (tiến bộ công nghệ), như TV và xe hơi. Anh đứng đó và kept his eyes glued to the screen (dán mặt vào màn hình) một hồi lâu. Rồi anh bỏ chạy.
Có quá nhiều information. Anh có thể là người tiền sử, nhưng anh vẫn khá smart. Anh nhớ về tia sét và nhận ra rằng mình đả extremely may mắn nên mới còn sống. Nhưng anh đang ở tương lai, nên anh cần update bản thân và tìm hiểu về nơi này.
Mọi thứ ở đây đều là một source of information (nguồn tin). Anh nhìn ngắm computer screens (màn hình máy tính) ở các cửa hàng, và anh từ từ học được cách technology đã thay đổi cách con người giao tiếp. Anh bắt đầu hiểu mọi thứ sau nhiều năm.
Được supported bởi những người lạ mặt hiếu kỳ, anh chàng tiền sử changed hoàn toàn và trở thành một chàng nerd. Chà, cũng không hẳn là totally. Anh vẫn không chịu cạo râu hay mặt quần áo.
Dẫu vậy anh biết tất cả mọi thứ về tin học và thậm chí còn kept up with the current trends (bắt kịp các xu hướng hiện thời).
Anh bắt đầu thích chỗ này.
Và rồi, vào một ngày giông bão, anh lại bị sét đánh. Chút nửa là anh chết rồi. Khi anh tĩnh dậy, một con khủng long đang ngửi mặt anh. Anh đả quay trở lại! Anh chàng tiền sử chạy vào hang và nhào tới ôm vợ mình. Cô tát anh.
“GRRARKKK!” cô hét.
Cô đang hỏi anh đi đâu giờ mới về, nhưng anh đả quên cách nói tiếng người tiền sử mất tiêu rồi. “Anh vừa trở về từ New York trong future, là năm 2019 cơ đấy!” anh kể.
“GROKK?” vợ anh hỏi lại.
“New! York!” anh lặp lại.
Vợ anh vò đầu bứt tai. Cô xấu hơn những gì anh nhớ.
Anh rút chiếc điện thoại thông minh ra và mở Bản đồ Google. Nó báo “Không có Wi-Fi connection (kết nối Wi-Fi).” Chết tiệt. Cái chỗ này outdated quá.
Outdated

Unit 36. Personalities & Appearance 1

End Of Message

Here’s what I told my friends.
I’ll never take those tests, the one when you answer questions and a computer judges what type of person you are.
They’re all the same, you answer the questions, the result tells you nice but useless thing. “You have a good personality. You’re funny and sociable and all that”. And then the computer says something like, “click here to improve your personality with this one amazing trick!!!”
And you click it and then it asks for your money before telling you the amazing trick.
“Rubbish!” I said. “I’ll never take one”.
But then, I met a beautiful girl, girl like those tests, and so I took it.
When I finished, the computer printed the result. It said:
“You have a good sense of humor: You can make people laugh, but sometimes you are full of yourself. You hardly care for other people. Your attitude towards others is poor, you don’t have social skill, and you have no depth at all. End of message. “What a cruel machine! That made me feel insecure about myself. I thought I was warm-hearted and a little too kind, weren’t  I? In fact, the girl even said  I was quite a good date.
I was getting annoyed.
Then i said, “it’s a computer, what the hell does a computer know about human beings?”
The computer printed something else. It said:
You’re such a pushover. Pretty girls and even computers can make you believe anything. You still need to develop and trust yourself more. If you don’t grow, everyone’s going to distance themselves from you. End of message”
I punched the rude thing right through the screen. It smashed and return off as one more page printed out:
“And you’re short-tempered. End of messageeeeeeeeee….”
Fine. That part was correct.
Đây là điều tôi đã nói với mấy đứa bạn.
Tôi sẽ không bao giờ làm mấy bài trắc nghiệm kiểu này; khi bạn trả lời các câu hỏi và một cái máy tính sẽ judges bạn thuộc type người nào. Tất cả chúng đều giống nhau. Bạn trả lời câu hỏi, và result trả về những điều hay có vẽ hay ho nhưng chả có tác dụng gì. “Bạn có nhân phẩm tốt. Bạn funnysociable, vân vân và vân vân.” Rồi sau đó cái máy tính sẽ nói mấy thứ đại loại như: “Ấn vào đây để improve your personality (cải thiện tính cách) với một bí quyết tuyệt vời!”
Và rồi bạn ấn vào, rồi nó sẽ bắt bạn trả tiền trước khi nói cho bạn biết về cái bí quyết tuyệt vời kia.
“Rác rưởi!” Tôi nói. “Mình sẽ không bao giờ làm thứ này.”
Nhưng rồi tôi gặp một cô gái xinh đẹp. Phụ nữ thường thích kiểu trắc nghiệm này, nên tôi đã làm nó.
Khi tôi hoàn thành, máy tính in ra kết quả. Nó nói:
“Bạn have a good sense of humor (có khiếu hài hước): bạn có thể khiến mọi người cười, nhưng đôi lúc bạn lại are full of yourself (tự phụ). Bạn gần như chẳng biết quan tâm đến người khác. Attitude của bạn đối với mọi người rất tệ, bạn không have social skills (có các kỹ năng xã hội), và bạn hoàn toàn have no depth (không có chiều sâu). Kết thúc tin nhắn.”
Thật là một cái máy cruel! Điều đó khiến tôi fell insecure about myself (cảm thấy tự ti về bản thân mình). Tôi đả nghĩ tôi là người warm-hearted và thậm chí còn hơi kind quá, không phải sao? Trên thực tế, cô gái còn nói rằng tôi là một bạn hẹn khá ổn.
Tôi dần cảm thấy khó chịu.
Rồi tôi nói, “Nó chỉ là một cái máy vi tính. Một cái máy tính thì biết quái gì về con người cơ chứ?”
Cái máy tính in ra thêm một thứ gì đó. Trên đó viết:
“Bạn quả là một gã pushover. Phụ nữ đẹp và thậm chí máy tính cũng có thể làm bạn tin vào bất cứ thứ gì. Bạn vẫn cần develop thêm và trust bản thân mình hơn. Nếu bạn không trưởng thành hơn, mọi người sẽ distance bạn. Kết thúc tin nhắn”
Tôi đấm xuyên qua màn hình cái thứ rude đó. Nó vở tan tành và tắt phụt đi khi một trang nữa được in ra thêm:
“Và bạn là người short-tempered. Kết thúc tin nhắnnnnnnnn..”
Thôi được rồi, phần này thì đúng….
End Of Message

Unit 37. Personalities & Appearances 2

What my name?

There are many ways to get a beautiful girl. But Dan used none of them. Yet I see him with a different girl every week. Some have a natural beauty and nice curves. Others have their hair dyed and even have plastic surgery on their nose, which means  they’re celebrities. How does Dan find celebrities??
He’s an ordinary man who is, maybe, slightly attractive. Because he doesn’t exercise, sometimes he’s slim, and sometimes, especially in the winter, Dan has chubby figure. This is because he likes to eat sweets and completely refuses to get in shape. One day, I asked him politely Why he refused. Do you know what he said?
“It’s doesn’t help. Woman don’t want you to be good shape; they want you to show them that they are especially important to you.”
And how do you do that? Buy them classy things? I asked, “no, no, no. Let me show you” and then Dan took off his shirt.
Now, Dan has tattoos on his arms. I never liked them. But when Dan took his shirt off, I realized he had tattoos over his entire figure. He used to be tanned. Now I couldn’t even see the color of his skin.
“My God, Dan!”
“There are many more under my shorts; everywhere” he smiled.
“But why so many?”
“They’re all names.” He smiled. “Very, very small names. Thousands of names.”
“But why would you have names on your body?”
And before he answered, a good looking girl casually walked up to us. She had a gorgeous curvy body and was dressed in a tight outfit. “Nice tattoos, man” she said. And Dan said, “I bet you a date you will find your name somewhere here. If you can’t find it up here, there are many more names below”
Clever jerk
Có rất nhiều cách để có được một cô gái đẹp, nhưng Dan không dùng cách nào trong số đó. Ấy vậy mà gần đây mỗi tuần tôi lại thấy anh ta đi cùng với một cô khác nhau. Một vài cô có natural beauty (vẽ đẹp tự nhiên) cùng nice curves (có những đường cong đẹp). Những cô khác have their hair dyed (nhuộm tóc) và thậm chí còn have plastic surgery on their nose (phẫu thuật sửa mũi thẩm mỹ), chứng tỏ họ là những người nổi tiếng. Làm thế nào mà Dan lại kiếm được cả mấy cô nổi tiếng vậy?
Anh ta là một gã ordinary, và có thể cũng có chút attractive. Và vì không tập tành gì, đôi khi anh ta hơi slim, và khi khác, đặc biệt là vào mùa đông, thì Dan lại có một thân hình khá chubby. Đó là bởi vì anh ta thích ăn đồ ngọt và hoàn toàn không chịu get in shape (giữ dáng). Một hôm nọ, tôi hỏi anh ta politely vì sao anh ta lại từ chối việc đó. Bạn biết anh ta nói gì không?
“Nó chẳng có tác dụng gì cả. Phụ nữ không cần anh có một vóc dáng khỏe đẹp; họ muốn anh show cho họ thấy họ especially quan trọng với anh thế nào.”  
“Thế anh làm vậy bằng cách nào? Mua cho họ những thứ classy à?” Tôi hỏi.
“Không, không ,không. Để tôi chỉ cho.” Rồi Dan cởi áo của mình ra.
Bình thường, tay Dan có mấy tattoos. Tôi chưa bao giờ thích chúng cả. Nhưng khi Dan cởi áo, tôi mới nhận ra anh ta có hình xăm khắp figure. Trước đây anh ta tanned. Bây giờ tôi thậm chí còn không nhìn được mà color of his skin (màu da của ai).
“Ôi thần linh ơi, Dan!”
“Phía dưới lớp vãi quần soóc này còn nhiều hơn nữa cơ; khắp mọi nơi!” Anh ta mỉm cười
“Xăm nhiều thế làm gì vậy?”
“Chúng đều là những cái tên.” Dan cười. “Những cái tên rất, rất nhỏ. Hàng nghìn cái tên.”
“Nhưng xăm mấy cái tên đấy lên người để làm gì?”
Và trước khi anh ta kịp trả lời, một cô gái good looking tình cờ đi tới. Cô ta có một thân hình curvy tuyệt đẹp và dressed một bộ đồ bó. “Hình xăm đẹp đấy, anh trai,” cô gái nói.
Và Dan đáp lại, “Anh cược một cuộc hẹn là em sẽ tìm thấy tên mình đâu đó trên này. Nếu em không thể tìm thấy ở đây, vẫn còn rất nhiều cái tên phía dưới này nữa đấy.”
Tên láu cá.
What my name?

Unit 38. Relationship & Felling 1

Hot

Ann’s bestie couldn’t understand why Ann likes her boyfriend so much.
“He’s hot,” Ann said. They at cafe. “I’ve told you that before. When I met him, I felt a connection to him. Then we went on a date and got to know each other. We felt like soulmate. And when I went to his house, I realized that he was so hot! I wanted to be his girlfriend!”
“But, but…”
“And you know I’m clingy and love to cuddle” said Ann. “And my boyfriend is so hot. He’s perfect to have a movie night with”
“Listen, Ann” said her bestie. “I’ve been your close friend for many years. Right?”
“Right. We have a long friendship”
“Then I just need to be honest. I just don’t understand how you can be in a romantic relationship with a man like that. You see something good in him? He’s not hot”
Ann replied, “He is”
Ann’s bestie said, “Listen. Why don’t you pretend you’re single for one night? Go meet a stranger, or go out with my friend Mark. He’s super hot. If I wasn’t married. I would totally flirt  with Mark”
“I would never cheat on him with Mark” said Ann.
“Mark’s not hot enough”
“WHAT? but your boyfriend isn’t hot at all!!”
Ann replied, “He is”
“He’s not”
“He really is”
“Not he’s not”
Ann said, “Look. I don’t want this to be an argument… but he is”
“NO!! He’s not hot!” Ann’s bestie hit the table hard.
Just then, Ann’s boyfriend back from the bathroom. “Hi, love” He kissed Ann. He sat on the chair, and it almost broke. He was so big that Ann’s bestie thought he would swallow the chair with his bum.
Ann smiled and held her big, fat boyfriend. “He’s like a big, hot blanket that keeps me warm. So hot”
Bestie của Ann không thể hiểu được vì sao Ann lại thích boyfriend của cô đến vậy.
“Anh ấy thật nóng bỏng,” Ann nói. Họ đang ngồi ở một quán cà phê. “Tớ đã kể với cậu rồi. Khi tớ mới gặp anh ấy, tớ feel a connection to someone (cảm thấy có kết nối với ai). Rồi chúng tớ có một dategot to know each other (tìm hiểu nhau). Cảm thấy như là soulmates vậy đó. Và khi tớ đến nhà anh ấy, tớ nhận ra rằng anh ấy cực kỳ nóng bỏng! Ngay lúc đó, tớ đả nhận ra rằng mình muốn trở thành girlfriend của anh ấy!”
“Nhưng, nhưng…”
“Và cậu cũng biết tớ là kiểu clingy và cực thích cuddle,” Ann tiếp tục. “Và bạn trai của tớ quá nóng bỏng. Anh ấy thật hoàn hảo để dành một buổi tối xem phim cùng.”
“Nghe này Ann,” cô bạn thân nói. “Tớ là close friend (bạn thân) của cậu nhiều năm rồi. Đúng chứ?”
“Đúng vậy. Chúng mình có một friendship lâu bền đấy.”
“Vậy nên tớ cần phải honest. Tớ không understand được làm như thế nào cậu lại có thể ở trong một romantic relationship với một gã như vậy. Cậu see something good in him (thấy được điểm gì tốt của ai) à? Anh ta không hề nóng bỏng gì sất.”
Ann cãi, “Anh ấy có.”
Cô bạn thân thuyết phục, “Nghe này. Sao cậu không thử làm như mình single chỉ một đêm nay? Ra ngoài gặp một stranger, hoặc go out with Mark bạn tớ thử đi. Cậu ấy siêu nóng bỏng luôn. Nếu tớ chưa married, tớ chắc chắn sẽ flirt với Mark.”
“Tớ sẽ không bao giờ cheat on him (lừa dối ai) với Mark đâu,” Ann từ chối. “Mark không đủ nóng bỏng”
“GÌ CƠ? Gã bạn trai của cậu còn chả nóng bỏng tí tẹo nào luôn!”
Ann đáp lại, “Anh ấy có.”
“Không hề.”
“Thực sự là có mà.”
“Không, KHÔNG HỀ!”
Ann hạ giọng, “Nghe này. Tớ không muốn chuyện này trở thành một cuộc argument… nhưng anh ấy có nóng bỏng.”
“KHÔNG!!HẮN CHẢ NÓNG BỎNG GÌ CẢ!? cô bạn thân đập mạnh vào mặt bàn. Ngay sau đó, bạn trai của Ann trở quay lại từ nhà vệ sinh. “Chào, em yêu.” Anh ta hôn Ann. Anh ta ngồi xuống ghế, và nó suýt nữa thì gãy. Anh ta to đến mức cô bạn thân nghĩ mông anh ta có thể nuốt trọn chiếc ghế.
Ann mĩm cười và ôm ghì lấy anh bạn trai to béo của mình. “Anh ấy như một tấm chăn to và nóng, luôn giữ cho tớ được ấm áp. Quá nóng bỏng còn gì.”
Hot

Unit 39. Relationship & Felling 2

A Letter From Me

Dear human.
You’re very lucky. You have many feeling, and you have many ways to show your feelings.
If you’re in the mood for something, it would be obvious. In fact, if you’re having mood swings or going through a painful break-up, you can’t hide your feelings.
I’m a cat, so I’m not so lucky. I don’t have any way to show my feelings. I can’t smile or look sad, or laugh or cry.
Oh. I have many, many feelings, I experience deep sadness when the human doesn’t feed me on time. I feel jealous when the human feeds the dog on time, but not me. I feel confused when the human forgets to feeds me, or when he forgets to pamper me. This really hurts my feeling.
Sometimes, I get homesick when I think about the forest. I feel like i need to explore my wild nature. Staying in the house so much makes me dull.
But I’m not too mood swings. Or too serious. In fact, I’m grateful for many things. Like when the human leaves me alone when I’m sleeping. Or he forgets the dog outside the house.
Anyway. As a cat , I have no way to show my mood . My face looks the same, no matter how strong my feelings are, whether I’m happy or depressed. This isn’t effective.
So, I use other ways to show you how I feel. I bring you dead mice when I’m happy. I pee in your shoes when you piss me off.
If I scratch your furniture, that mean it’s ugly.
And if I scratch your boyfriend, that means he’s ugly too.
That’s why I scratched him yesterday. I care about you, so I’ll search him everyday you bring him.
Dump him.
With love.
Your cat
Human thân mến,
Bạn rất may mắn đấy. Bạn có nhiều loại feelings, và cũng có nhiều cách để show your feelings (thể hiện cảm xúc của bản thân). Nếu bạn đang in the mood for something (đang có hứng làm việc), người khác nhìn vào trông sẽ khá rõ ràng. Thực ra thì, nếu bạn đang có mood swings (tâm trạng thất thường) hoặc trải qua một cuộc chia tay đau buồn, thì bạn không thể che giấu được những cảm xúc của mình.
Tôi là một con mèo, vì vậy tôi không được may mắn cho lắm. Tôi không có cách nào để biểu lộ cảm xúc của mình. Tôi không thể mỉm cười hay tỏ ra buồn bã, hoặc laugh hay khóc lóc.
À, tôi cũng có nhiều, rất nhiều cảm xúc chứ. Tôi cảm nhận sadness sâu sắc khi cậu chủ không feed tôi đúng giờ. Tôi thấy jealous khi cậu chủ cho tên chó ăn đúng giờ, chứ không phải cho tôi. Tôi thấy confused khi cậu chủ quên không cho tôi ăn, hay khi quên pamper tôi. Điều đó thực sự hurt my feelings (làm ai đau lòng).
Đôi khi, tôi thấy homesick khi tôi nghĩ về rừng cây. Tôi có cảm giác mình cần phải khám phá bản năng hoang dã của mình. Ở trong nhà quá lâu khiến tôi bị dull.
Nhưng tôi không bị quá moody. Hoặc quá serious. Trên thực tế, tôi thấy grateful vì rất nhiều thứ. Như khi cậu chủ leaves me alone (để ai yên) khi tôi đang ngủ. Hoặc khi cậu bỏ quên tên chó ở bên ngoài.
Dù sao thì. Là một con mèo, tôi không có cách nào biểu lộ mood của mình. Khuôn mặt tôi lúc nào cũng vậy, bất kể cảm xúc trong tôi mạnh mẽ ra sao, dù tôi hạnh phúc hay depressed. Nó cứ trơ ra thôi.
Thế nên, tôi dùng những cách khác để cho bạn thấy cảm xúc của tôi. Tôi mang cho các bạn mấy con chuột chết khi tôi thấy vui vẻ. Tôi tè vào giày của các bạn khi các bạn piss me off (làm ai bực mình). Nếu tôi cào đồ đạc trong nhà bạn, nghĩa là nó xấu tệ hại.
Và nếu tôi cào bạn trai của bạn, điều đó cũng có nghĩa là anh ta xấu tệ hại. Đó là lý do tại sao tôi cào anh ta hôm qua. Tôi quan tâm đến bạn, vì vậy tôi sẽ cào anh ta mỗi lần bạn dẫn anh ta đến đây.
Sút anh ta đi.
Yêu thương.
Mèo của bạn.
A Letter From Me

Unit 40. Entertainment

The Best Comedy

Eric went to the karaoke bar again. It’s where he would go to have fun after working hard. He had a few shots of tequila and went crazy that night. He must have sung twenty pop songs before he left the bar.
The next day, he woke up feeling half dead. That was an excellent party.
Oh! And he met an extremely hot girl last night. He tried to remember her. He knows he had and dance with her and stood with her at the bar. He kissed her in the bathroom and, yes! He even held her bum. He couldn’t remember anything after, not even her name. He had drunk a lot!
Anyway, he decided to find a TV series and watch it from the beginning all the way to end. Something silly that didn’t make him think. His head hurt from the hangover.
He found a comedy show called “My life’s a comedy”. The reviews said it was engaging but not complicated. Perfect for someone who had too many drinks the previous night.
Eric lay down in bed and started watching the show. The opening scene was in a karaoke bar. The main character  was a drunk man singing. Eric laughed and through of himself. Then the man met a girl, bought her a drink, and they went to the bathroom. Wait. Was that the same bathroom?
The man kissed the girl and held girl’s bum.
Eric sat up in bed.
In the next scene, the woman returned to the bar, took off her fake hair, and said to the barman, “I’d like my bill, please.”
She said it in a deep, strong, man’s voice.
Eric stopped the show. He called the barman. “Hey. Err… remember that girl last night? What her name?”
“Harry”
Eric lại tới quán karaoke bar (quán karaoke). Đó là nơi anh thường tới để have fun (chơi vui) sau khi làm việc chăm chỉ. Anh làm vài shots of tequila (chén rượu tequila) và went crazy (phát điên) đêm hôm đó. Anh phải hát cở hai chục bản pop trước khi left quán.
Ngày hôm sau, Erik tỉnh dậy feeling half dead (cảm thấy sống dở chết dở) Đó là một excellent party. Ồ! Và anh gặp một cô nàng cực kỳ nóng bỏng đêm qua. Anh cố gắng lại nhớ về cô. Anh biết mình đả có một dance với cô và đứng với cô ở quầy bar. Anh hôn cô trong nhà vệ sinh và, đúng rồi! Anh thậm chí còn bóp mông cô nửa. Anh không thể nhớ bắt cứ điều gì diễn ra sau đó, để cả tên cô. Anh đả uống quá nhiều!
Dù sau thì, anh cũng quyết định tìm một series TV và xem nó từ đầu đến cuối. Một thứ silly để không làm anh phải nghĩ. Đầu anh quá đủ đau từ lúc thấy nôn nao rồi.
Anh tìm thấy một show hài kịch tên là “Đời tôi là một vở hài kịch”. Reviews nói rằng nó engaging nhưng không phức tạp. Hoàn hảo cho những ai đã nốc quá nhiều drinks vào tối hôm trước đó.
Eric nằm xuống giường và bắt đầu xem. Opening scene (phân cảnh mở đầu) là ở một quán karaoke. Character chính là một gã say đang hát. Eric bật cười và nghĩ đến chính bản thân mình. Và rồi gã gặp một cô gái, mời cô một ly, và rồi họ đi vào nhà vệ sinh. Chờ đã. Có phải là cùng một cái nhà vệ sinh không?
Gã đàn ông ôm hôn cô gái và sờ mó cô ta.
Eric ngồi nhỏm dậy trên giường.
scene tiếp theo, cô gái quay lại quầy bar, gỡ bộ tóc giã xuống, và nói với barman, “Làm ơn đưa tôi cái hóa đơn với.”
Cô nói bằng một giọng trầm, khỏe, nam tính.
Eric ngừng tập phim. Anh gọi cho người phục vụ quầy. “Này. À… Nhớ cô gái đêm qua không? Tên cô ấy là gì nhỉ?”
“Harry.”
The Best Comedy

Unit 41. Shopping

Impossible Item

Huy was not a shopaholic. He hated shopping for anything at a mall. If his girlfriend insisted on looking for things on sale or clearance, he would refused to  go with her. Most of the time, she didn’t really need anything, she just wanted to look. That’s why she always spent her days off going window shopping. Unlike her, Huy preferred online shopping. There, he could do research on what he needed, enter a discount code , pay the shipping cost, and the wait. Online shopping came with delivery.
Easy.
Why would anyone want to walk around a big place to find stuff? Well, I’ll tell you.
Huy liked rare and unusual items. Things that were impossible to order online. Or just impossible items. He found such an item at a market which opened only on Thursdays at midnight.
The item was almost round and look like a large, blue stone with red dots. “I don’t believe you,” Huy said to the seller.
“Really. It’s a dragon egg” said the seller, an old man with bright blue eyes. “At just 20 million Dong, it’s a bargain”.
“Is it damaged?”
“No”
“Does it come with guarantee?”
“Of course not. It’s ancient. I can give you a receipt, but you can’t return it if you’re unhappy”
Well, Huy went ahead and bought the egg.
He took it home and put it on a high shelf. “What’s that?” Asked his girlfriend.
“A dragon egg. DON’T TOUCH”
She did, and she dropped it. The egg cracked, opened, and a smelly liquid poured out. Just like a chicken egg, but blue”
There was no baby dragon.
Huy ran back to the market to complain. “There was no dragon inside”
“Well” said the old man, “did you have breakfast yesterday?”
“Of course” said Huy.
“Were there chickens in the eggs?”
Huy không phải một shopaholic. Cậu ghét shopping bất cứ thứ gì ở mall. Nếu bạn gái cậu nhất quyết tìm những thứ đang trong sale hoặc được clearance, cậu sẽ từ chối đi cùng cô. Phần lớn thời gian thì cô không thực sự cần cái gì cả, cô chỉ muốn ngắm thôi. Và vì vậy, cô luôn dành những ngày nghĩ của mình để going window shopping (đi ngắm đồ).
Khác với cô, Huy thích online shopping (mua hàng trực tuyến) hơn. Trên đó, cậu có thể tìm hiểu kĩ càng về những gì cậu cần, nhập discount code (mã giảm giá), chỉ trả shipping cost (phí vận chuyển) và rồi đợi để nhận hàng. Mua hàng trực tuyến came with delivery (đi kèm dịch vụ giao hàng)
Đơn giản.
Tại sao người ta lại muốn đi quanh một chỗ rộng lớn để tìm đồ cơ chứ? Chà, để tôi giải thích cho bạn.
Huy thích những món đồ rareunusual. Những thứ sẽ không thể nào order trên mạng được. Hoặc đơn giản là những món đồ bất khả thi. Cậu tìm thấy một món như vậy ở một phiên chợ chỉ họp lúc nửa đêm ngày thứ Năm.
Món đồ gần như hình tròn và nhìn giống một viên đá xanh, to với nhiều chấm đỏ.
“Tôi không tin ông đâu,” Huy nói với seller.
“Thật mà. Nó là trứng rồng đấy,” người bán hàng nói, đó là một ông già với đôi mắt sáng màu xanh.
“Chỉ 20 triệu đồng, nó là một bargain đấy.”
“Nó có bị damaged không?”
“Không hề.”
“Nó có come with a guarantee (có bảo hành) không?”
“Đương nhiên là không. Nó là đồ ancient. Tôi có thể đưa cậu một cái receipt, nhưng cậu không thể return nó nếu cậu không hài lòng.”
Rồi thì, Huy quyết định mua quả trứng.
Cậu mang nó về nhà và đặt nó ở một cái shelf cao. “Cái gì thế?” Bạn gái cậu hỏi.
“Trứng rồng đấy. ĐỪNG CÓ ĐỘNG VÀO__”
Cô lỡ động vào, và làm rơi nó. Quả trứng bị nứt, vỡ ra, và rồi một chất lỏng bốc mùi chảy ra. Như trứng gà vậy nhưng có màu xanh.”
Không có con rồng nào cả.
Huy chạy trở lại khu chợ để phàn nàn. “Chả có con rồng nào trong đó cả!”
“Chà,” ông già nói, “hôm qua cậu có ăn sáng chứ?”
“Tất nhiên!” Huy trả lời.
“Có thấy con gà nào trong mấy quả trứng đấy không?”
Impossible Item

Unit 42. Accessories & Clothes 1

Extreme Fashion

Fashion is funny. Everyone wants to dress well in the current trend, but everyone also wants to have their own stylist choice.
Cara bought unique fashion glasses and handbags , but she always noticed someone else with the same stuff. The same thing happened to her trainers, her colorful flip-flops, and even her sandals made of snakeskin and her wooden sunglasses.
One night, she saw a strange man across the street. His fingernails were long and covered in while nail polish. His eyes were completely covered by a sleep mask. The man suddenly jumped up and ran to her.
“How could you see me?” She asked him.
“Never mind. Would you like to look unique all the time?” He asked Cara.
“Maybe”
“Then buy this”. He showed her a metal handbags with an eyes on it. “It can see everything. If it sees anyone wearing what you’re wearing, it will change your style automatically”. He smiled. “Discount, today only”
Cara bought the bracelet but was nervous to use it. One day, when someone was wearing the same hairband and lipstick that she wore, she put the bracelet on. Its magic eyes opened, looked at the other girl. Then it changed Cara’s hairband and lipstick immediately.
She was amazed!
She wore it daily since then. Even if someone simply wore earrings or a necklace like hers, her earrings and necklace changed. She never had to think about what to wear ever again.
Trouble came when Cara went to a music festival. 100,000 people went there from around the world. As you can imagine. There were many crazy styles there.
Too many, in fact. The bracelet’s eyes looked around all night, changing Cara’s outfit 1,000 times in the first hour.
Then it stopped. Closed its eyes, and all her clothes disappeared.
Well. That was quite unique.
Thời trang rất buồn cười. Ai cũng muốn mình ăn mặc thật well theo the current trend, nhưng tất cả lại đều muốn có lựa chọn stylish của riêng mình. Cara chọn mua những chiếc kính thời trang và handbags độc, nhưng cô luôn noticed thấy những người mang đồ giống mình. Điều tương tự cũng xảy ra với đôi trainers, đôi colorful flip-flops, và thậm chí cả đôi sandals da rắn và cặp sunglasses gọng gỗ.
Một đêm nọ, cô trông thấy một người đàn ông lạ mặt bên kia đường. Móng tay gã để dài và được phủ một lớp nail polish (sơn móng tay) màu trắng. Hai mắt của gã hoàn toàn bị một tấm sleep mask che khuất. Gã đột nhiên nhảy lên và chạy về phía cô.
“Làm thế nào mà anh lại nhìn thấy tôi được thế?” cô hỏi gã.
“Đừng bận tâm. Cô có muốn trong mình lúc nào cũng độc nhất không?” gã hỏi lại.
“Cũng có thể.”
“Vậy mua cái này đi.” Gã chìa ra một cái metal bracelet với một con mắt trên đó. “Nó có thể nhìn thấy tất cả mọi thứ. Nếu nó thấy bất cứ ai mang đồ giống cô, nó sẽ tự động change your style.” Giảm giá, chỉ trong hôm nay.”
Cara mua cái vòng tay nhưng e ngại chưa dùng. Một hôm, thấy có người mang hairband và dùng lipstick giống mình, cô mới đeo nó vào. Con mắt ma thuật mở ra, nhìn vào cô gái kia. Nó ngay lập tức đổi băng đô và màu son của Cara.
Cô ngạc nhiên tột độ!
Từ đó cô đeo cái vòng tay hàng ngày. Kể cả khi có người chỉ đơn giản là wore earrings hoặc một chiếc necklace giống cô, khuyên tau và vòng cổ của cô cũng sẽ tự thay đổi. Cô không bao giờ phải think about what to wear (nghĩ xem nên mặc gì) nửa.
Rắc rối xảy đến khi Cara tham dự một lễ hội âm nhạc. 100.000 người từ khắp nơi trên thế giới có mặt ở đó. Như bạn có thể tưởng tượng, ở đó có rất nhiều loại phong cách điên rồ.
Qua nhiều, trên thực tế là vậy. Con mắt của chiếc vòng tay nhìn xung quanh suốt đêm, thay đổi trang phục của Cara 1.000 lần chỉ trong giờ đầu tiên.
Rồi nó ngừng lại, mắt nhắm nghiền, và toàn bộ quần áo của cô  biến mất.
Chà. Cái đó thì đúng là khá độc đấy.
Extreme Fashion

Unit 43. Accessories & Clothes 2

Cotton

My favorite item in my wardrobe was a big, yellow raincoat. It was loose and comfortable, and went down almost to my feet. It had big, spacious pockets and an orange pattern.
Then, to match the raincoat, I had bright yellow shoes made of leather.  Oh, I looked eyes-catching. Everyone said yellow looked good on me.
I often waited for it to rain, and then I’d change out of my normal clothes and get dressed well for the rain.
I would zip up my raincoat and would go out in the rain on my bike, laughing at the people walking around in their wet clothes. The rain would fall on their trousers and jackets; the wrong outfit for that kind of weather.
I’d spend my whole day in that raincoat, at work and at cafes. I loved my raincoat so much that I would only unzip it and take it off when i return home.
One rainy day, I was at a cafes with my friend, Hong. Hong wasn’t into fashion, so she was wearing what she wore everyday: jeans and a hoodie. And when we were there. I told her that there was something special about my outfit.
She asked me what it was
And i told her what it was.
She said, “what? Really?”
“Yes”
“Silk or cotton?”
“I won’t tell you”, I said. And with that, i got up, paid the bill, and went to unlock my bike.
Now, Hong has always been a joker, so I should have expected it. She entered her car and drove very near me as I was bending over. As she passed, she grabbed my yellow raincoat and pulled hard.
WOOSH!
The raincoat had come off. I stood in the rain wearing only cotton underwear. Yellow, of course.
Món đồ yêu thích trong wardrobe của tôi là một cái raincoat to, màu vàng. Nó loose và thoải mái, và che gần tới bàn chân tôi. Nó có pockets lớn, rộng rãi và pattern màu cam.
Tiếp theo, để match với áo mưa, tôi có đôi giày màu vàng tươi làm bằng leather. Ồ, trông tôi thật eye-catching. Mọi người nói màu vàng looked good on me (trông hợp với ai).
Tôi thường đợi trời mưa để change out of ( (something) thay (cái gì) ra ) quần áo bình thường và get dressed (mặc quần áo) cẩn thận để đi mưa. Tôi sẽ zip up (kéo khóa lên) áo mưa và đi ra ngoài trên chiếc xe đạp của mình, cười nhạo những người đi trong quần áo ướt. Mưa sẽ rơi trên quần và jackets của họ; outfit không dành cho loại thời tiết đó.
Tôi sẽ dành cả ngày vẫn mặc chiếc áo mưa đó, ở chỗ làm và tại các quán cà phê. Tôi yêu chiếc áo mưa của mình đến mức tôi chỉ unzip nó và take in of (cởi cái gì ra) khi về đến nhà.
Vào một ngày mưa nọ, tôi đang ở quán cà phê với bạn tôi, Hồng. Hồng wasn’t in to fashion (không quan tâm đến thời trang), vì vậy hôm đó cô ấy mặc những gì cô ấy vẫn mặc hàng ngày: quần jeans và áo hoodie. Và khi chúng tôi ở đó, tôi nối với cô ấy rằng có một điểm đặc biệt về trang phục của tôi.
Cô ấy hỏi tôi nó là cái gì.
Và tôi nói cho cô ấy biết.
Cô ấy nói, “Hả? Có thật không?”
“Thật chứ sao không.”
Silk hay cotton?
‘Mình sẽ không kể đâu,” tôi nói. Xong đâu đó, tôi đứng dậy, thanh toán hóa đơn và đi mở khóa chiếc xe đạp của mình.
Mọi khi, Hồng luôn là một người thích đùa, nên lẽ ra tôi phải lường trước được điều này. Cô ấy bước vào xe và lái vào gần trong lúc tôi đang cuối người xuống. Khi cô ấy đi qua, cô ấy nắm lấy cái áo mưa vàng của tôi kéo mạnh.
SOẠT!
“HAHAHAHA! Là vãi cốt-tông nhá!” Hồng cười rũ rượi.
Chiếc áo mưa tuột ra. Tôi đứng dưới mưa chỉ mặc mỗi underwear bằng vãi cốt-tông. Màu vàng, tất nhiên.
Cotton

Unit 44. Daily Routines & Free-Time  Activities 1

How To Be Clean

Cam had never organized a thing in her life. She never did the usual work that someone does in the house. She didn’t tidy up her room or any part of her house.
When she woke up, she got herself ready for work like this:
She brushed her teeth – sometimes, combed her hair – sometimes, had tea – sometimes and went work. She didn’t have a morning routine. Even at work, she never organized herself. Her workload was very little, yet she fell behind often and had to reschedule things all the time.
When she returned home, she never did any housework, but the house was always clean. Why? Because her roommate, Tam, did all the cleaning.
This changed suddenly in a sad way. Her roommate Tam died.
A week later, Cam left the house in a terrible mess and went to work. When she returned, the house was clean.
Nothing was out of place. She told the police someone had come and cleaned her house. They laughed.
At the weekend, the house became really dirty again. But on Monday, she returned from work at midday and found it wasn’t the same mess as she had left it. It was cleaned perfectly.
The next day, Cam made a really, really bad mess and hid somewhere in the house to see what happened.
Then she saw it. A white thing that floated in the air, straight to the kitchen to pick up the broom. A ghost. Cam watched the ghost clean the house, put things in their right order, and then wash the dishes. Then she saw the ghost’s face.
“Tam??”
The ghost of Tam screamed “Caaaaam. Everything is so dirtyyyyyy! I can’t leave until you clean your houuuuuuuuse!”
Cam ran out of the house . But, since then, she has been the cleanest person in the world.
Cám chưa bao giờ sắp xếp được bất cứ thứ gì trong cuộc đời của mình. Cô không bao giờ làm những the usual work mà người ta vẫn làm trong nhà. Cô không hề dọn dẹp phòng của cô ấy hoặc bất kỳ phần nào của ngôi nhà.
Khi tĩnh dậy, cô got herself ready for work như thế này:
Cô đánh răng – đôi khi, combed tóc – đôi khi, uống trà – đôi khi và đi làm. Cô không có một morning routine (thói quen hàng ngày buổi sáng ) nào. Ngay cả trong công việc, cô cũng không bao giờ organized herself. Workload của cô ấy rất ít, nhưng cô ấy thường xuyên bị tụt lại phía sau và luôn phải reschedule mọi thứ.
Khi trở về nhà, cô không bao giờ làm housework, nhưng nhà luôn sạch sẽ. Tại sao? Vì cô bạn cùng phòng, Tấm, did all the cleaning (lo việc dọn dẹp).
Rồi đột nhiên mọi việc thay đổi một cách đáng buồn. Tấm qua đời.
Một tuần sau, Cám để lại căn nhà trong một đống mess khủng khiếp và đến chỗ làm. Khi cô returned, ngôi nhà đã trở nên sạch sẽ. Chả có gì was out of place cả. Cô nói với cảnh sát rằng ai đó đã đến và dọn dẹp nhà của cô. Họ cười rũ rượi.
Vào cuối tuần, ngôi nhà lại became thực sự dirty. Nhưng đến thứ Hai, cô đi làm về midday và thấy nó không phải là một mớ hổn độn same như những gì cô đã bỏ lại. Nó được dọn dẹp perfectly.
Ngày hôm sau, Cám bày ra một đống hỗn độn thực sự, thực sự tồi tệ và trốn trong nhà để xem chuyện gì xảy ra.
Sau đó cô nhìn thấy nó. Một thứ màu trắng floated trong khôn khí, bay thẳng vào bếp để nhặt broom lên. Một con ma, Cám xem con ma dọn dẹp nhà cửa xắp xếp đồ đạc theo đúng order của chúng rồi dọn rửa dishes. Rồi cô nhìn thấy khuôn mặt của nó.
“TẤM ĐẤY À??”
Cám chạy té khói ra khỏi nhà. Nhưng, từ đó trở đi, cô trở thành người sạch sẽ nhất thế giới.
How To Be Clean

Unit 45. Daily Routines & Free-Time Activities 2

A Counseling Session

Nick was an assistant at a stock company for 15 years. He felt empty after everyday. he became sleepless at night. So, he went to a psychiatrist and confided in him.
“Is there anything that gives you pleasure in life?”
“I’ve tried many hobbies before. Once I had a musical interest, but my friends run away when I started to sing.”
“Then I switched to chess because people said that it’s good for the brain. However, I never won because there were many champion at my chess club. It made me feel even worse”
“I understand.”
“Then my boss recommended that I hit the road. He thought that my indoor lifestyle was slowly destroying my mental health. I needed a getaway to refresh and connect with myself. My friend and I went camping in the woods. Unfortunately, we got into a big fight, then we split”
“Then i decided to reflect on my life. I realized I’ve enjoyed baking since I was a child, so I bought an oven. But the next day I was diagnosed with diabetes. I had to avoid sugar in my diet.”
“Sorry to hear about that. How about social events?”
“I like to keep it low-key. I used to hold get-together with some close friends, but everyone is married now”
“Is there maybe something wrong with me?” Asked Nick.
The psychiatrist seemed very deep in though, and he started writing something. After a while, he looked up and gave Nick a paper.
“You are totally fine physically. You are just going through a midlife crisis, and modern medicine has not found a cure for that yet.”
“So what’s this paper for?”
“Give this to my secretary so she can write you a bill. It’s $500 for one hour.”

Nick làm trợ lý ở một công ty chứng khoán đã 15 năm nay. Anh cảm thấy trống rỗng sau mỗi ngày làm việc. Anh became sleepless (bắt đầu bị mất ngủ) hàng đêm. Thế là anh tìm tới một bác sỹ tâm thần và confided với ông.
“Có điều gì mang lại cho cậu pleasure trong cuộc sống không?”
“Tôi đã thữ rất nhiều hobbies trước đây. Có một dạo tôi hứng thú với musical, nhưng lũ bạn tôi toàn chạy té khói mỗi khi tôi bắt đầu cất tiếng hát.”
“Rồi tôi đỗi sang chess vì mọi người bảo là nó tốt cho trí óc. Nhưng tôi lại chẳng thắng trận nào vì có quá nhiều champions ở câu lạc bộ cờ tôi tham gia. Điều đó thậm chí còn làm tôi thấy tệ hơn.”
“Tôi hiểu.”
“Sau đó sếp tôi gợi ý tôi nên hit the road (lên đường). Ông ấy nghĩ lối sống indoor đang dần dần hủy hoại sức khỏe tinh thần của tôi. Tôi cần một chuyến getaway để làm mới và connect with myself (kết nối với bản thân). Bạn tôi và tôi đi camping trong rừng. Không mai may là, chúng tôi cải nhau to và cuối cùng ai đi đường nấy.”
“Thế rồi tôi quyết đinh reflect on my life (suy gẩm về cuộc đời). Tôi nhận ra mình đã luôn enjoyed baking từ khi còn là một đứa trẻ, thế là tôi mua một cái lò nướng. Nhưng rồi ngay hôm sau tôi bị chẩn đóan mắc bệnh tiểu đường. Tôi phải bỏ đường ra khỏi chế độ ăn của mình.”
“Rất tiếc khi nghe thấy điều đó. Thế còn những social events thì sao?”
“Tôi thích keep it low-key (giữ lối sống không phô trương). Tôi thường tổ chức mấy buổi get-togethers với vài người bạn thân, nhưng giờ tất cả điều đã có gia đình rồi.”
Vị bác sĩ chìm deep in thought (chìm sâu trong suy nghĩ), và rồi ông bắc đầu viết ra mấy thứ. Một lúc sau, ông ngẩn lên và đưa Nick một tờ giấy.
“Cậu hoàn toàn ổn về mặt thể chất. Chỉ là cậu đang trãi qua một cơn khủng hoảng tuổi trung niên, và hiện tại y học vẫn chưa tìm ra cách giải quyết nó!”
“Thế tờ giấy này để làm gì vậy?”
“Đưa nó cho thư ký của tôi để cô ấy viết hóa đơn cho cậu. Của cậu là 500 Đô cho một giờ điều trị.”

A Counseling Session

Unit 46. Education

Love Conquers All

Loni woke up late again. Her professors had completely given up on warn her. They worried that she wouldn’t complete her master’s degree on time.
Loni was extremely smart. Ever since she was little, she read books about every subject. As soon as she finish a book, her parents provided her with another. She had a wide knowledge base. She sent her application to the best university when she was only fourteen. In her country, she was famous for being the youngest university student ever. She graduated in only two years with a degree in computer science. Then she started her Master’s and focused on advanced robotics.
To manage the stress, she started taking dance lessons.
Then, suddenly, she became very lazy. She would sleep all day and read poetry instead of going to lectures. She had stopped trying any further to obtain her qualification. Her friends thought she was wasting her tuition fees.
They were very concerned, so they talked to her dance instructor. “Could you pleas encourage her to pursue her studies?”
He said he would do his best.
After the next dance session, Lion’s instructor said, “Don’t you want to complete your Master’s, Loni?” And then maybe a Doctorate?”
“Not anyone”, she said with a smile.
“Why not?” He asked. “I think it would benefit you and everyone in the world if you used your skills to make the world a better place.”
“Maybe,” said Loni, “but that was not my plan”
“It wasn’t?”
“No. My plan was to build a robot factory which could build a robot army and take over the world.”
The instructor coughed. “Oh”
The  she smiled at him warmly. “But I like you, so i don’t want to destroy you.”
Loni lại dậy muộn. Các professors (giáo sư) của cô đả hoàn toàn từ bỏ việc warning (cảnh cáo) cô. Họ lo lắng rằng cô sẽ không complete Masters degree (hoàn thành bằng thạc sĩ) đúng hạn. 
Loni cực kỳ thông minh. Ngay từ khi còn nhỏ, cô đả đọc sách về mọi chủ đề. Ngay khi cô đọc xong một cuốn sách, bố mẹ cô lại provided (cung cấp) cho cô một cuốn khác. Cô có một nền tảng kiến thức rộng. Cô đả gửi application (đơn xin) vào trường đại học tốt nhất khi chỉ mới mười bốn tuổi. Ở nước cô, cô nổi tiếng là university student (sinh viên đại học) trẻ nhất từ trước đến nay. Cô tốt nghiệp chỉ trong hai năm với tấm degree ( bằng đại học ) về khoa học máy tính. Sau đó, cô bắt đầu chương trình thạc sĩ và tập trung vào công nghệ robot advanced (nâng cao). 
Để kiểm soát stress (sự căng thẳng), cô bắt đầu taking dance lessons (theo học môn gì đó). 
Rồi, đột nhiên, cô trở nên lười biếng. Cô ngủ cả ngày và đọc poetry (thơ ca) thay vì tới lecture (bài giảng). Cô đả cố gắng further (thêm, (nửa) ) để đạt được qualification (bằng cấp) của mình nữa. Bạn bè nghĩ rằng cô đang tự lãng phí tuition fees (học phí). 
Họ rất quan tâm đến cô, vì vậy, họ đả nói chuyện với instructor (người hướng dẫn) khiêu vũ của cô. “Anh có thể khuyến khích cô ấy pursue her study (theo đuổi sự nghiệp học hành) được không?” 
Anh ta nói sẽ làm hết sức có thể. 
Sau session (buổi/phiên) tập nhảy tiếp theo, giáo viên hướng dẫn hỏi Loni, “Em có muốn hoàn thành xong chương trình thạc sĩ không, Loni? Và sau đó có thể là tiến sĩ nữa?” 
“Giờ thì thôi rồi,” cô ấy nói với một nụ cười. 
“Tại sao không?” Anh hỏi. “Anh nghĩ nó sẽ có lợi cho em và mọi người trên thế giới nếu em sử dụng kỹ năng của mình để make the world a better place” (khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn). 
“Có lẽ vậy,” Loni nói, “nhưng đó không phải là kế hoạch của em” 
“Không phải sao?” 
“Không. Plan (kế hoạch) của em là xây dựng một nhà máy sản xuất robot có thể tạo nên một đội quân robot và chiếm lĩnh thế giới.” 
Người hướng dẫn giật mình. “Ồ.” 
Rồi cô mĩm cười ấp áp với anh. “Nhưng em thích anh, nên em sẽ không tiêu diệt anh đâu.”        
Love Conquers All

Unit 47. Crimes & Politics 1

Never Stop Dreaming

Ever since Minh was a kid, he only wanted to become a criminal.
While other kids read Doraemon comic books. Minh studied murders. In high school, when his classmates started swearing and smoking, Minh started stealing things. When his friends spent money on dates, Minh saved for a gun.
Then he thought to himself, “I want to be a criminal, officially, You are only a real criminal once you are arrested and put into jail. If not, I am just an ordinary citizen.”
Therefore, he always tried to get attention.
One time, he stole lots of stuff and put it all inside his jacket. He passed by the guard, hoping to be caught, but the guard didn’t notice anything wrong. He even smiled and nodded at him.
Frustrated with being a thief that never got caught, he decided to attack someone; with a policeman witnessing, of course.
On night, he found a drunk man walking alone near the police station. He approached and started a fight with that man. The police showed up and stopped them. Minh was very excited. “Finally, this day has come”, he thought.
However, it turned out the run man was wanted for tax evasion. So, Minh was even rewarded for helping the police, even though he tried very hard to prove that he was guilty.
No matter how often he committed crimes, he was not lucky enough to be locked up in jail. He finally gave up on his dream to become a criminal.
He could not become a prisoner, but he still wanted to try and be in jail somehow.
And so, he kept on helping the police. Four years later, he became a prison warden and lived his prison life happily ever after.
Từ khi còn là một đứa trẻ, Minh đả chỉ muốn trở thành một tên criminal (tội phạm). Trong khi những đứa trẻ khác đọc truyện tranh Đô-rê-mon thì cậu lại tìm hiểu về murders (tội giết người). Khi học trung học, trong khi bạn cùng lớp tập tọe chửi thề và hút thuốc, Minh bắt đầu stealing (lấy trộm), Khi bạn bè tiêu tiền vào những cuộc hẹn thì cậu lại dành dụm để mua một khẩu gun
Rồi cậu tự nhủ, “Mình muốn trở thành tội phạm, một cách chính thức. Chỉ khi nào bị arrested (bắt giữ) và tống vào jail (phòng giam), mình mới là một tên tội phạm thực thụ. Bằng không, mình chỉ là  một gả dân đen bình thường.” 
Thế là, cậu luôn tìm mọi cách để thu hút sự chú ý. 
Một lần, cậu ăn trộm rất nhiều đồ và giấu bên trong áo khoác. Cậu lượn qua mặt người guard (người bảo vệ), hi vọng mình bị bắt quả tang, nhưng người bảo vệ không để ý thấy điều gì bình thường. Anh ta thậm chí còn mỉm cười và gật đầu với cậu. 
Chán nản với việc làm một tên thief (kẻ trộm) không bao giờ got caught (bị bắt), Minh quyết định mình sẽ attack (tấn công) một ai đó; với sự chứng kiến của một viên policeman (cảnh sát nam), tất nhiên rồi. 
Một đêm nọ, cậu thấy một người đàn ông say xỉn đang đi bộ một mình gần police station (đồn cảnh sát). Cậu tiếp cận và started a fight (gây sự) với ông ta. Cảnh sát xuất hiện và stopped (ngăn chặn) họ lại. Minh cực kỳ phấn khích. “Cuối cùng ngày này cũng đến,” cậu chắc mẩm. 
Tuy nhiên, hóa ra gã đàn ông say xỉn lại bị  tội trốn tax (thuế). Thành ra, Minh thậm chí còn được khen thưởng vì đả giúp đỡ cảnh sát, dù cậu đả rất cố gắng prove (chứng minh) mình guilty (tội lỗi). 
Bất kể Minh thường xuyên phạm tội đến thế nào, cậu vẫn không đủ may mắn để bị locked up in jail (bị nhốt vào ngục). Cuối cùng cậu từ bỏ ước mơ trở thành tội phạm của mình. 
Cậu đả không thể trở thành một prisoner (tù nhân), nhưng cậu vẫn muốn cố gắng có mặt trong tù bằng cách này hay cách khác. 
Và thế là, Minh tiếp tục giúp đõ cảnh sát. Bốn năm sau, cậu trở thành một tay prison warden (cai ngục) và dành phần đời còn lại của mình sống hạnh phúc trong tù. 
Never Stop Dreaming

Unit 48. Crimes & Polictics 2

Taking Control

The animal had some serious issue with the farmer.
The problem was that he had too much power on the farm.
He did things without their permission and without requesting any public opinion on the issues.
Like when he shaved the sheep. Cruelty!
The animals got together and decided not to allow such decisions to happen unless they all agreed  to then. They tried to bring the case to the farmer, but he threw them out of the house without even listening.
They asked the cat to talk to the farmer because he was clever and knew how to talk to the farmer, but he was uninterested in their goal.
Well! The animals were aware of the political situation, that there was no freedom of speech and that the farm was under jungle law. So, because no one else would help them, they had to get into politics. They decided  to choose a strong leader among them and take over the farm!
This was the government they formed:
The cow became the president. She was valuable, and she could step on the farmer’s dog if he cause trouble.
The chickens were the best politicians because they talked a lot.
The sheep made good soldiers because they did what they were told and had horns.
That was enough for now, so the armed forces , the sheep, surrounded the farmer’s house. The chickens stood in front of the door, and the cow rang the belt. When the farmer came outside, the cow shouted “we’re here to claim our independence!”
But the farmer was on the phone. “Yes,” he said to the phone, “barbeque at 6 pm. We can barbeque beef, lamb, or chicken”
And so, the animals voted on who would be the first to go.
Các con vật có một số vấn đề nghiêm trọng với người nông dân. 
Vấn đề là có quá nhiều power trong trang trại. Ông đã làm nhiều việc mà không có sư cho phép của chúng cũng như không hề requesting bất cứ public opinion (ý kiến công chúng) nào về issues
Như khi ông cạo lông cừu. Tàn ác! 
Các con vật đả tập hợp nhau lại và quyết định sẽ không allow những decisions như vậy được đưa ra trừ khi tất cả agreed với những quyết định đó. Chúng đả cố gắng đưa case tới người nông dân, nhưng ông tống cổ chúng ra khỏi nhà và thậm chí còn không thèm nghe chúng nói. 
Chúng nhờ mèo nói chuyện với người nông dân vì nó thông minh và biết cách nói chuyện với ông, nhưng nó uninterested với goal của chúng. 
Chà! Các con vật were aware of the political situation (nhận thức được tình thế chính trị), rằng không có freedom of speech (quyền tự do ngôn luận) và cái trang trại này được quản lý bằng jungle law (luật rừng). Vậy là, vì biết rằng không còn ai có thể giúp mình, chúng phải bắt đầu tham gia vào chính trị. Chúng quyết định chọn một leader mạnh mẽ trong nội bộ và take over (chiếm lấy) trang trại! 
Và đây là government mà chúng thành lập được: 
Cô bò trở thành president. Cô ấy có giá trị, và cô có thể giẫm lên con chó của người nông dân nếu nó dám gây rắc rối. 
Những con gà là các politicians tốt nhất bởi vì chúng nói rất nhiều. 
Những con cừu có thể trở thành những soldier ưu tú vì chúng biết nghe lời và có sừng. 
Thế là tạm đủ rồi, vậy nên armed forces (lực lượng vũ trang), đàn cừu, bao vây ngôi nhà của người nông dân. Lũ gà đứng trước cửa, và cô bò bấm chuông. Khi người nông dân bước ra ngoài, cô bò hét lên, “Chúng tôi ở đây để đòi independence!” 
Những người nông dân đang nghe điện thoại. “Vâng,” ông nói vào điện thoại, “ăn thịt nướng lúc 6 giờ chiều. Chúng ta có thể nướng thịt bò, thịt cừu hoặc thịt gà.” 
Và thế là, đám vật nuôi quay ra voted xem đứa nào sẽ lên thớt đầu tiên. 
Taking Control

Unit 49. Business & Commerce

The Startup

“So tell us about your company”, the bank said.
I was nervous, this was a meeting between my new startup company and the bank. We were trying to come to an agreement with the bank and get a loan so that we could cover the startup cost.
We knew our business would be successful. We had done a lot of research on the customers. We knew there was a huge amount of potential for such a business. We had met with business partners and had long discussions  with them, so we knew what we were doing.
The thing is, the economic situation was still quite hopeless. Unemployment was still a problem, and trades both domestic and abroad were not going so well. The bank had asked my team to show them numbers as proof that we would pay the loan back.
We showed them that the economy would recover very soon. In fact, we knew it was possible for us to make some easy money. The bank was impressed. Banks saw many average business idea all the time, you see. But as I said, we were a very professional team.
We knew what we were doing.
So, I answered the bank and told them about our company. It was as simple as this:
Small companies pay us a little money, and we help them make a lot of money. With our business advice, we guarantee 900 percent profit.
That’s when the bank got suspicious. “What’s your company’s name?”
I said, “Finance Advice Key Expert F.A.K.E”
The bank refused to give us the loan.
I asked my team, “Guys, this is the fifth bank! What are we doing wrong”
“Vậy, nói cho chúng tôi nghe về công ty của bạn đi,” phía ngân hàng nói. 
Tôi rất hồi hộp. Đây là một cuộc hợp giữa công ty mới start-up của tôi với ngân hàng. Chúng tôi đang cố gắng come to an agreement with (tiến tới một thoả thuận với) ngân hàng và get a loan (vay tiền) để có thể trang trải các start-up cots (chi phí khởi nghiệp). 
Chúng tôi biết doanh nghiệp của mình sẽ thành công. Chúng tôi đả thực hiện rất nhiều research về customers. Chúng tôi biết rằng có a huge amount of (một lượng lớn) tiềm năng cho một business như vậy. Chúng tôi gặp đối tác làm ăn và có những discussions dài với họ, vì vậy, chúng tôi biết mình đang  làm gì. 
Vấn đề là, the economic situation (tình hình nền kinh tế) vẫn còn khá hopeless. Unemployment vẫn còn là một vấn đề, và trades cả trong và abroad đều đang không được suôn sẻ cho lắm. Ngân hàng yêu cầu chúng tôi đưa ra những con số có thể chứng minh rằng chúng tôi sẽ trả được khoản vay. 
Chúng tôi cho họ thấy rằng nền kinh tế sẽ recover rất sớm. Trên thực tế, chúng tôi biết rằng chúng tôi possible kiếm được một khoản easy money (khoản tiền dễ kiếm) Ngân hàng rất ấn tượng. Các ngân hàng luôn phải tiếp rất nhiều ý tưởng kinh doanh average, bạn thấy đấy. Nhưng, như tôi đả nói, chúng tôi là một đội rất professional. Chúng tôi biết mình đang làm gì. 
Thế là, tôi trả lời ngân hàng và nói với họ về công ty của chúng tôi. Đơn giản như thế này thôi: 
Các công ty nhỏ trả cho chúng tôi một ít tiền, và chúng tôi giúp họ kiếm được rất nhiều tiền. Với advice kinh doanh của chúng tôi, chúng tôi đảm bảo lợi nhuận 900 percent
Đó là khi ngân hàng bắt đầu nghi ngờ. “Công ty của các bạn tên là gì?” 
Tôi trả lời, “Chuyên gia tư vấn tài chính Chủ chốt –Finance Advice Key Experts. Viết tắt là F.A.K..E.” 
Ngân hàng từ chối việc cho chúng tôi vay vốn 
Tôi hỏi đội của mình, “này các cậu, đây đả là ngân hàng thứ năm rồi! Chúng ta đang làm sai ở đâu vậy nhỉ?” 
The Startup

Unit 50. Space

Knowing

“Where is earth momma”
She was a curious little girl.
“Earth is the planet where we live, honey”
When she grew up, the little girl wanted to work at the city’s observatory, watching the stars everyday.
Right then, she and her mum were sitting outside the house at night, and the cat was sleeping next to them. “Is earth the only planet”
Her mum laughed, “Oh no! Space is very, very big. Earth planet is one of several other planets in our solar system, and our solar system is one of many inside our galaxy, which is called the Milky Way, and that is one of many galaxies in the Universe”
“Wow”
“Yes” said her momma, “and there are lots of other objects in the sky, like moons, a cloud of dust, and lots of rocks. And all of these things are travelling at a mind-bowling speed”
The cat turned around and kept sleeping.
“Can we go and see if there’s life in those places??”
Momma shook her head. “We can’t, honey. We’d need to launch a spacecraft and stay inside it. There’s no atmosphere out there. Any life would freeze like an ice cube and die without a space suite”
The little girl looked angry then. “That’s a lie! How come you watch all these movies about aliens, and the aliens just walk around outside without freezing?”
The cat woke up, opening just one eye.
“Those are just movies, honey”
“LIAR!!! I know there are aliens out there!!” And the little girl ran into the house.
The cat waited for momma to leave.
Then its head opened at the top. A thin, metal stick with a light at the end grew from it. The light shined on, off, on, off, and the cat’s eyes turned red.
The cat opened its mouth and said with a thousand small voices, “she knows”
“Mẹ ơi, Earth là cái gì vậy ạ?’’
Cô là một cô bé tò mò .
“Trái đất là planet nơi chúng ta sống, con yêu ạ .”
Khi lớn lên, cô bé muốn được làm việc ở observatory của thành phố, ngắm các stars mỗi ngày. Ngay lúc bấy giờ, cô và mẹ đang ngồi bên ngoài ngôi nhà vào ban đêm và con mèo thì đang nằm ngủ bên cạnh họ. “trái  đất có phải là hành tinh duy nhất không ạ ?”
Mẹ cô cười . “ Ồ không! Space rất, rất rộng lớn. Planet Earth (hành tinh trái đất) là một trong số những hành tinh trong solar system (hệ mặt trời) của chúng ta, và hệ mặt trời bên trong galaxy của chúng ta, được gọi là the Milk Way (dãi ngân hà), và đó là một rong rất nhiều thiên hà trong the Universe (vũ trụ).”
“Ồ ồ.”
“Ừ,” Người mẹ nói, “có rất nhiều những objects khác nữa trên bầu trời, như là các moons, những đám mây dust và rất nhiều đá. Và tất cả chúng đều đang travelling với tốc độ mind-blowing.”
Con mèo xoay người lại và tiếp tục ngủ.
“Mình có thể tới và xem liệu ở những nơi đó có life hay không được không ạ ?”
Người mẹ lắc đầu. “Chúng ta không thể ,con yêu à .Chúng ta cần phải launch a spacecraft (phóng tàu vũ trụ) và ở yên trong đó. Ngoài đó không có tí không khí nào. Bất kỳ sự sống nào cũng sẽ bị freeze như một viên đá và chết nếu không mặc space suit (bộ đồ phi hành gia).”
Cô bé trong có vẽ giận dữ. “Đó là một lời nói dối !Thế tại sao trong bao nhiêu phim về aliens, những người ngoài hành tinh đó lại có thể đi dạo loanh quanh ở bên ngoài mà không hề bị đóng băng?”
Con mèo tĩnh dậy, chỉ mở một mắt.
“Những thứ đó chỉ là phim thôi, con yêu à.”
“MẸ LÀ ĐỒ NÓI DỐI!! Con biết người ngoài hành tinh vẫn ở ngoài kia !!”. Và cô bé chạy vào nhà.
Con mèo chờ người mẹ rời đi.
Sau đó, đầu nó tách ra ở phần đỉnh. Một thanh kim loại mỏng với ánh sáng ở cuối trồi lên từ đó. Ánh sáng shined bật, tắt, bật, tắt và đôi mắt con mèo chuyển sang màu đỏ.
Con mèo mở miệng và nói với một ngàn giọng nói nhỏ cùng lúc, “CON BÉ BIẾT ĐẤY.”
Knowing

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *